Thứ Năm Thánh

Không có một ngày nào và cử hành nào lại mang tính Công Giáo hơn ngày thứ Năm Thánh, ngày khởi đầu cho một cử hành kéo dài trong ba ngày. Cử hành ngày hôm nay có tên gọi là “Bữa  Tiệc Cuối Cùng.”

Khi mặt trời khuất bóng, Tam Nhật Thánh bắt đầu với những cử hành của Bữa Tiệc Ly.
Việc Giêsu xuất hiện trong cõi trần này đã làm thế giới đảo lộn tùm lum hết; và trong bữa ăn cuối cùng này, Giêsu dạy cho các học trò thân cận nhất của mình cách đảo lộn thế giới họ đang sống. Không biết là họ có làm được không; nhưng Giêsu đã đảo lộn cuộc đời họ.

Là người Dothái, Giêsu và các học trò mình luôn biết rõ việc “sạch dơ” trong bộ luật. Nhà nhà đều có những cái lu nước trước hiên dùng trong việc thanh tẩy. Với dòng máu du mục và nền văn hóa sa mạc, người dân Dothái sống lòng hiếu khách như một dấu chỉ của lòng kính trọng Thượng Đế; và một trong những cử chỉ đó là rửa chân cho những người lữ hành ghé ngang. Đương nhiên, việc này là việc của người đầy tớ.

Thế mà trong bữa Vượt Qua theo luật khi hoàng hôn xuống, khi mọi người háo hức kể về việc vượt qua của cha ông, Giêsu lặng lẽ cởi áo, lấy nước rửa chân cho học trò mình. Ông Phêrô phản ứng thật dễ hiểu: không bao giờ thầy rửa chân cho con… Giêsu âu yếm trả lời là anh phản ứng đúng đấy; nhưng anh không hiểu thầy làm gì. Thầy là thầy mà rửa chân cho anh, thì anh em hãy làm như vậy. Thầy sắp chết rồi và không còn ở với anh em nữa, thầy muốn anh em làm đảo lộn thế giới này bằng cách này. Anh em sẽ là “thầy tu” theo cách của Thầy. Cái luật tu của thầy chỉ có vài chữ thôi: “Hãy yêu nhau NHƯ Thầy yêu anh em.”

Là thầy tu, anh em trở thành người hướng dẫn người khác trong cầu nguyện với Thượng Đế, xung phong đi đầu trong cuộc chiến tinh thần chống lại cái ác, sẵn lòng trở thành lỗi tai cho ai muốn kể lể, luôn là mái nhà để đau khổ khó khăn của người khác lắng xuống. Anh em đừng tưởng hướng dẫn người khác là lãnh đạo, đừng tưởng đi tiên phong là có người tung hô hay bảo vệ, không bao giờ được phép đưa ra quyết định gì ngoài việc ôm ấp yêu thương người đến đổ rác của họ vào cuộc đời anh em, và nhất là sẵn lòng chết để cho ai đó bớt đau hơn một chút.

Là thầy tu theo phong cách Giêsu thì phải tu NHƯ Giêsu. Tu NHƯ Giêsu là yêu NHƯ Giêsu. Yêu NHƯ Giêsu là cởi áo ra, quỳ xuống trước từng người mà rửa chân cho họ như một tên đầy tớ nhé. Bất cứ ai đều là chủ của anh em và anh em phải phục vụ họ như một người tôi tớ. Anh em có hiểu không?

Một năm một lần, anh em rửa chân cho một số người trong nghi lễ thì cũng dễ dàng thôi; nhưng anh em phải sống 364 ngày còn lại trong hành động này. Khi mỗi ngày mới gõ cửa phòng của anh em, anh em thấy mình là gì? Là đầy tớ của mọi người và làm công việc của người tôi tớ, hay anh em sống như ông “thầy phán.” Phán nhiều quá đến nỗi người nấu bếp sợ có lúc són cả ra quần. Hay anh em sống như ông “thầy chỉ.” Chỉ nhiều quá đến độ cứ tưởng tay mình cầm cây đũa thần vung lên vung xuống làm thành cái bệ trên đầu trên cổ người khác để nhảy lên ngồi chễm chệ mà quên đi họ là những người đang vất vả khó nhọc làm việc của mình. Hay anh em sống phung phí xa hoa như ông “thầy biết.” Biết hết mọi sự đến độ đưa ra các phán đoán nặng nề sai trái như tên thẩm phán ngu xi không cần lắng nghe mà hiểu cho hết tình hết lý của những bất công oai trái ngay cả nơi những người âm thầm lo lắng cầu nguyện cho mình. Hay anh em sống như ông “thầy hưởng.” Hưởng quá nhiều bổng lộc trần thế đến độ quên ngày để sơn hào hải vị trong tủ lạnh và khi chúng mốc meo lên thì đem đổ ngay trước mặt những người chỉ mong “lượm thùng rác” của cha để mà sống vui sống khoẻ. Anh em có hiểu không?

Là người Dothái, Giêsu và đồ đệ mình biết rất rõ việc chuẩn bị thức ăn cho bữa Tiệc Vượt Qua quan trọng này. Cả nhà quây quần bên bàn ăn với thức ăn được quy định hẳn hoi: là một con chiên đực đúng một tuổi và không bị thương tật hay tì vết nào, ăn thịt chiên nướng với bánh không men và rau đắng. Cách ăn cách mặc của bữa này cũng được ghi xuống cẩn thận. Cửa thì đóng, máu chiên thì bôi lên cửa, mang dép có quai, thắt lưng, tay cầm gậy và ăn vội vàng như chạy giặc. Trong bối cảnh linh thiêng và trang trọng ấy, Giêsu cầm lấy Bánh, chúc tụng tạ ơn và bẻ ra rồi nói: Hãy cầm lấy mà ăn, thịt Thầy đây. Giêsu cầm lấy chén Rượu, lớn tiếng chúc tụng và trao cho đồ đệ và nói: Hãy cầm mà uống, máu Thầy đây. Máu Giao Ước ở cái đà ngang cửa ra vào sẽ được thay bằng máu Thầy. Thầy lấy Máu Thịt Thầy làm lương thực nuôi anh em để anh em sống trong Thầy, thì anh em hãy đảo lộn thế giới này bằng cách trở thành lương thực nuôi mọi người; và đây là cách duy nhất anh em NHỚ đến Thầy.

Thầy không bắt khó anh em, nhưng anh em là thầy tu theo cách của Thầy thì phải NHỚ cách Thầy tu để mà bắt chước. Là thầy tu, anh em ráng hết sức mà sống như chiên không tì vết để người khác mang anh em lên bàn thờ mà tế lễ. Cuộc đời của anh em phải nhỏ lại để người khác có thể cầm được, để người khác bẻ vụn ra. Anh em phải ráng rèn luyện thân phận của mình có nét đẹp như lời chúc tụng tạ ơn dù anh em là xác thân mê muội với biết bao lỗi lầm. Anh em có hiểu không?

Nói với mọi người Thánh Lễ là hy tế thập giá của Giêsu Kitô chắc cũng không khó lắm và chẳng mất nhiều năng lượng; nhưng mỗi ngày anh em tham dự vào lễ tế cuộc đời Thầy trong cương vị chủ tế của cộng đoàn vì lợi ích gì? Anh em dâng lễ để cầu thay nguyện giúp cho bàn dân thiên hạ; hay anh em hí hửng vì cái bổng lễ to. Bàn dân thiên hạ xin lễ nhiều quá và anh em có chú ý đến những ý nguyện của họ; hay anh em chỉ loay hoay tìm cái lễ béo mà mất hết giờ chuẩn bị dâng lễ cho đàng hoàng chu đáo. Anh em có thinh lặng dọn mình nghiêm túc bằng suy niệm những gì phải chia sẻ; hay anh em lấy chuyện con Mít với thằng Xoài nơi tờ báo lá cải để buôn chuyện cho hết giờ. Khi đọc kinh sớm tối, anh em có để lòng mình sống theo hơi thở của dân Thiên Chúa trong các ca vịnh; hay anh em hít lấy hít để cái sầu riêng của mình và coi như trời sắp sập nếu nó không biến thành cái sầu chung để khoe khoang làm cớ cho mọi người ca tụng và khen ngợi mình là người can đảm giỏi giang. Anh em có hiểu không?

Là thầy tu theo cách của Thầy, anh em có sẵn lòng để cuộc đời mình bị người khác ăn đến hao mòn chưa? Anh em có sẵn lòng để tấm lòng mình bị người khác uống đến chẳng còn gì chưa? Anh em phải tu để đời anh em, tấm lòng anh em, để từng hơi thở, từng thớ thịt, từng giọt máu của anh em trở nên thơm ngọt như một bữa cơm mẹ nấu. Anh em có hiểu không?

Thứ Năm Thánh hôm nay vẫn được gọi là sinh nhật của chức linh mục. Ban ngày, thằng tôi này mừng sinh nhật chức linh mục của nó trong một nhà dưỡng lão nhỏ bé; và khi hoàng hôn về, nó cử hành nơi nguyện đường với anh em nó. Nó bật khóc vì thấy rõ mình chẳng tu theo kiểu của Thầy nó. Nó cũng yêu, nhưng tim nó cứ vớ vẩn vương vấn cái gì đâu đâu đó mà chẳng chịu yêu NHƯ Thầy. Nó cũng đọc kinh sớm tối mỗi ngày với anh em và dâng lễ khi đến lượt, nhưng đời nó như cục xương khó gặm lại làm người khác mắc nghẹn.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày học bài học để trở thành ông thầy tu.
Thằng tôi cầu nguyện và tha thiết xin ông Thầy Giêsu đừng rời bỏ nó vì những ngu dốt không hiểu bài học tu của nó. Nó nghe rõ lắm tiếng Giêsu hỏi: anh có hiểu không? Anh có kinh nghiệm được Thầy yêu anh không? Anh có dám ăn Thịt và uống Máu Thầy không? Ngồi một mình với Thầy Giêsu trong thinh lặng và ánh đèn mờ của nhà chầu, thằng tôi không biết nói gì, nó thinh lặng ngắm nhìn nơi Giêsu chọn ở lại để mong gặp được ánh mắt yêu thương của Giêsu, cho dù có chút gì đó trách móc nó vì tu chẳng ra hồn. Nó mong nghe rõ tiếng tim thổn thức của Thầy Giêsu để ráng mà uốn nắn tim nó trở nên hiền lành khiêm nhượng như Thầy.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày thằng tôi mong điều cuối cùng nó có chỉ là Giêsu và tình yêu của Thầy; ngày nó mong không gì ràng buộc nó để nó tự do yêu với kinh nghiệm được yêu bởi Giêsu; ngày nó mong được bé nhỏ để bị bẻ vỡ vụn ra với kinh nghiệm lập lại lời của Giêsu: cầm lấy mà ăn, mà uống để nhớ đến Thầy.

(Tuần Thánh 2019)

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngày Của Im Lặng Cúi Đầu

Đúng chín tháng trước lễ Giáng Sinh, Giáo hội luôn mừng lễ Truyền Tin. Gọi thế cho đúng tên và phải phép, chứ thực ra Giáo hội mừng ngày một người thiếu nữ có thai trong lịch sử nhân loại này. Nói cho chính xác là Giáo hội mừng cái “tích tắc bắt đầu” của một con người, dù lúc ấy chưa thành hình thành dạng của một con người như lời kinh được đọc chính ngọ của người Kitô hữu: “Chốc ấy (phút giây ấy), Ngôi thứ Hai xuống thế làm người.”

Ngày lễ này thật lạ.
Ngày mà (Ngôi) Lời của Thượng Đế vô hình, Đấng ở ngoài thời gian và không gian nên chẳng có gì chứa được Ngài, trở thành hữu hình nhỏ bé, và bắt đầu sống nhờ ở đậu nơi dạ con của người phụ nữ nghèo miền quê Nazareth có tên Maria. Sự kiện này đã được đếm đến 2019 lần rồi.

Cái “tích tắc bắt đầu” ấy xảy ra nơi cái dạ con tối tăm im lìm đã không làm cho bất cứ một ai có thể biết được; vì cuộc sống và mọi sinh hoạt, mọi sự cứ vẩn chuyển đều như bình thường của mọi ngày. Cái thế giới lúc ấy chắc ít ồn ào như bây giờ; nhưng không vì thế mà kém tiếng động thân quen của một làng quê tràn trề tiếng cười nô đùa của con trẻ. Làng quê ấy chắc chắn là không có những dấu ấn của hiện đại; nhưng không vì thế mà mất đi những nét vất vả bon chen trong cuộc sống trên mặt trên lưng của những người có trách nhiệm mang ít thức ăn đặt lên bàn trong bữa cơm chiều. Ánh bình mình của ngôi làng ấy không ráng ló dạng qua bức màn ô nhiễm không khí như mặt trời buổi sớm của khu công nghiệp; nhưng những tia ấm bình minh ấy vẫn có thể làm ngột ngạt những mối quan hệ sai trái, hay làm nóng thêm những căng thẳng của các mối quan hệ gia đình nơi mà cả làng ai cũng biết ai. Hoàng hôn về trên ngôi làng ấy không thể làm chứng làm cho những dịch vụ thương mãi vô liêm sỉ trở nên sầm uất như khu đèn đỏ của của thế giới văn minh; nhưng cũng đẩy đưa những trao đổi thầm kín của ao ước thấp hèn của ham muốn phận người.

Cái thế giới này sẽ tiếp tục được đếm đến 2050 hay 3870, hay đến con số nào đi nữa, thì mặt đất này, cái lòng của mẹ đất này vẫn mang thai và sinh ra những phận người với những hỉ-nộ-ái-ố nơi tâm tưởng, luôn ngập đầy những tham-sân-si trong lối sống và tiếp tục gây thêm nhiều những sầu thương – ai oán của loài thụ tạo trong từng cuộc sống tương quan. Song song với những tội tình ấy, mẹ đất giờ đây không cô đơn một mình; vì Thượng Đế, Đấng sáng tạo nên nó bước vào trong nó. Thượng Đế bước vào đời như anh chàng bình thường với tình yêu khôn tả. Anh ta bước vào đời và con người thấy Anh như cách Anh chỉ cho họ thấy một cách rõ ràng tường tận. Này nhé, Thượng Đế này có tim nhé và tim Anh bắt đầu đập trong lồng ngực. Này nhé, Thượng Đế này không phải là không hình không dạng nhé vì Anh không miễn nhiễm với những lao động vất vả, kể cả thèm ăn thèm mặc. Này nhé, Thượng Đế không chỉ là quyền năng vạn đại nhé vì Anh luôn yếu thế bất lực trước những dồn nén bất công và dối gian vu khống. Này nhé, Thượng Đế không chỉ dư tràn phúc lộc vì Anh cũng đã từng tan nát cõi lòng đến độ lệ rơi không giấu được khi có người bạn chết.

Cái tình đã làm cho Thượng Đế vô hình trở thành hữu hình và Anh không thể đứng ngoài “cái xác hay chết” của con người. Anh đã không hề muốn thấy cái chết làm chủ con người. Anh không muốn công trình tạo dựng có giây phút định mệnh khi cái chết rống lên như quyết định cuối cùng không thể trốn chạy; và Anh đã bước vào cái xác hay chết đó, không hề khác cái xác của chúng ta. Cái xác Anh không chỉ đơn giản là cái gì đó để mà thấy; nhưng Anh bước vào các xác này với tất cả sự thật của nó, không những để ôm lấy hết mọi lỗi tội thối tha, nhưng sống cho đến tận cùng cái xác phận này

Với cái tình của mình, Anh bắt đầu biến những gì nối kết với anh trở thành đền thánh và cái đền thánh đầu tiên chính là cái dạ con tối tăm im lìm ấy, để từ từ như cấp số nhân, khắp chốn không gian đều trở thành “thánh điện của cuộc tình.” Cái tình luôn làm Anh không bao giờ cảm thấy đủ để sống cùng, sống với mọi người; nên Anh muốn trở nên từng thớ thịt, từng giọt máu của mọi người. Anh nói trong tha thiết ân tình hai động từ làm ngớ ngẩn người nghe: “Ăn đi nào, Uống đi nào.” Ăn cho thật đã Mình Anh – Uống cho thật say Máu Anh để Cái Tình Anh như chất keo hoà quyện  không phân biệt đâu là Anh và đâu là người nữa. Anh biết cái xác của anh sẽ chết thật nên Anh buông bỏ trọn vẹn để Cha muốn làm gì thì làm. Anh cũng sợ hãi cái thập tự giá treo cái xác của Anh lủng lẳng giữa trời như thế lắm; nhưng Anh cứ ráng không chống chọi lại cái ý của Cha. Anh chết lơ lửng để cây thập giá từ khi đã dựng lên rồi sẽ mãi sừng sững đứng đó; một đầu cắm vào mẹ đất, một đầu vươn ra tận ngoài thời gian và không gian, để mặt đất đầy sỏi đá khô cằn chết chóc đang phủ đầy những cục tội thối thủm như phân biến nên mảnh đất đầy phù sa lấp lánh những dòng sữa và mật. Anh biết rõ sức nặng của cái xác và tình yêu của Anh làm cho cây thập giá lún xuống thật sâu vào lòng đất mẹ để không ai có thể bứng nhổ Anh ra khỏi lịch sử của nó; và luôn vững chắc cho tất cả mọi thụ tạo và cả vũ trụ bao la vô tận leo lên mà bước vào thế giới “bên kia” như Anh từ “bên kia” bước vào lòng thụ tạo.

Ngày lễ này thật lạ.
Ngày mà “cái nhục” (thịt) con người, cái cục đất sét mà Thượng Đế nhào nặn lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nghĩ mãi không ra: sao ông Chúa nhà mình không “úm ba la” một cái là ra một Anh người khôi ngô tuấn tú, quyền năng vô song để cho bàn dân thiên hạ hết đường từ chối và quỳ gối lạy lục cho mà biết tay. Ngày mà cái cục đất sét từ thủa ban đầu ấy tự nhiên có giá trị hẳn lên so với ngày mà “mẹ chúng sinh” căng mắt ra nhìn quả cấm nó mới đẹp làm sao. Cứ ngỡ  giơ tay rờ đụng trái cấm để có cái cảm xúc thăng hoa, cứ ngỡ nhâm nhi từng miếng rồi nuốt từ từ để thưởng thức cái vị êm phê nhè nhẹ.

Đẹp đâu chẳng thấy, cảm xúc đâu chẳng biết, êm phê nhẹ nhẹ đâu không có mà chỉ thấy những cái gì đâu đâu ấy, hình như được gọi là cái dục thì phải. Cái nhục mà Thượng Đế gọi là “tốt đẹp tuyệt vời đó” bỗng dưng vồ cái “dục-tình” tạo nên muôn vàn giống tội. Cái nhục mơn mởn sức sống thánh thiêng do Thượng Đế đụng cái mũi của Ngài vào ngày ấy bỗng dưng chụp cái “dục-quyền” vào mình trở nên bạo chúa cô đơn. Cái nhục nhẹ nhàng êm ái nghỉ ngơi bên Thượng Đế vào ngày thứ Bẩy đầu tiên ấy bỗng dưng khều cái “dục-tiền” phủ lên mình để biến mình từ công chúa thành con sen ghẻ lở, lác chóc rỉ ra những thứ hôi hám như cái xác chết sình. Bỗng dưng Thượng Đế Truyền Tin khắp cõi thụ tạo rằng Thượng Đế cần cái nhục với ba cái dục ấy và Thượng Đế sẵn sàng trả bằng bất cứ giá nào mà cao nhất là tình yêu tự do đích thực.

Bỗng dưng ở cái làng bé tẹo tèo teo, trong thụ tạo nghèo nàn không ra gì có được duy nhất một “Cục Yêu” đáng cái “bất cứ giá nào đó” của Thượng Đế. Cái “Cục Yêu” đó bỗng dưng thốt lên cái lời Thượng Đế muốn nghe: “tôi chỉ là cái nhục hèn mọn, xin cứ tự do yêu thương muốn làm gì thì làm” và bỗng dưng trong cái “tích tắc bắt đầu” đó, có cái Nhục MỚI – cái nhục THẦN-NHÂN – “CÁI NHỤC được sinh ra mà không phải được tạo thành”. Trong cái Nhục MỚI này cũng có cái DỤC hoàn toàn KHÁC. Cái DỤC KHÁC này chính là “xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Thế là cái NHỤC DỤC hoàn toàn MỚI KHÁC bỗng trở thành tâm điểm lịch sử, trở thành Nguồn Năng Lượng của sức sống thánh thiêng, và của kết hợp trọn vẹn. Cái NHỤC DỤC MỚI KHÁC đó nằm dài trên thập tự giá, giang tay ôm ấp lấy thụ tạo bao la và ôm ấp lấy vĩnh cửu giới hạn. Thập tự giá thành chiếc cầu nối hai bờ tình; một đầu cắm chặt vào lòng mẹ đất và một gắn kết không rời vào bờ vai Cha.

Kể ra cũng lạ.
Từ cái ngày truyền tin cùng với cái “tích tắc ban đầu” ấy, nơi cung lòng của Thượng Đế Tam Vị vô hình, bỗng lung linh một hình hài nhục thể người. Cũng cùng giây phút ấy, thụ tạo hư vô tìm lại được giá trị của bóng hình Tình Yêu Vĩnh Cửu. Và rồi từ đó, mọi cái nhục cùng với cái ba cái dục nếu sống bằng và sống theo cái lối xin vâng khiêm nhường và tình yêu thiết tha thì bỗng dưng gặp  lại được Thượng Đế với lòng xót thương vô ngần làm cho nó thành cái Nhục Dục hoàn toàn Mới Khác. Có lẽ không ai có thể biết được cái mới khác đó xảy ra như thế nào; nhưng sẽ cảm được nó lạ lùng lắm. Lạ lùng đến độ làm lòng người mẩn mê điên dại.

Thằng tôi này đã mê mẩn đến điên dại cái ngày lạ lùng này. Nó cử hành cái lạ của ngày này để nhớ cái nhục dục của nó có thể thành thiêng liêng, để cầu xin cho cái nhục dục của nó được sống tròn đầy cái mới khác. Thằng tôi mê mẩn đến điên dại cái ngày truyền tin này. Nó mở tiệc tùng to như hội vì biết rằng cái nhục dục có tên cục tội được gọi bằng tên mới: “cục yêu.” Cái mê mẩn điên dại ấy làm nó xao xuyến cõi lòng nhưng cũng rạo rực từng thớ thịt; và tất cả những mê mẩn điên dại cùng xao xuyến rạo rực ấy làm thằng tôi nhận ra rằng: cái đẹp nhất mà con người có thể làm được trong ngày lễ thật lạ này chỉ là im lặng cúi đầu.

Tu cho thật kỹ.
Sống cho thật đầy.
Để nhục dục được thay
qua cúi đầu im lặng.

(Lễ Truyền Tin 2019)
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vòng Xoay Đất Trời

(Tiết Xuân Phân 2019)

Trước đây, thằng tôi này được sinh ra ở nơi chỉ có hai mùa mưa nắng. Thời gian trôi mau và thời cuộc đưa đẩy, thằng tôi này được hưởng cái đẹp của bốn mùa của vũ trụ tạo vật. Từ đó, thằng tôi này lấy làm thích thú khi tiết trời đổi thay và hôm nay là ngày đầu tiên của tiết Xuân 2019 theo con lịch mặt Trời. Thằng tôi quyết chí dành một canh giờ để không làm gì, để được đất trời ôm lấy nó trong cái đổi thay của thời gian.

Trong cùng một góc nhỏ của khu vườn nhà, ngồi ngay đầu của chiếc ghế sắt quen thuộc, kéo cái áo cho kín cổ và hớp lấy một ngụm nước nóng cho ấm, thằng tôi nhắm mắt để  nhìn vào sự mênh mông, bất động để lấy sức tham dự vào sự tưởng tưởng, im lặng để nói hết những gì hiện hữu nó muốn lên tiếng. Thằng tôi sẵn lòng để lương tâm nó dẫn nó đi lại những dấu chân của những ngày tháng bận rộn vừa qua để vui, để buồn, để cười, để khóc, và nhất là để học tiếp những bài học của phận người mong manh.

Thằng tôi vui nhiều vì trong hai tiết Thu Đông vừa qua, nó làm việc như con ong mật. Nó nhận thấy mình như người thợ “không chuyên” nhưng “cần cù chịu khó” cày bừa với những cam kết của đời sống và những lời mời của những người thương cho nó học thêm về họ. Nó chăm chỉ làm với hy vọng nhỏ nhỏi là không ai thất vọng về những cam kết của nó và ai đó, ít là bằng lòng với lời mời thằng tôi này cộng tác trong chương trình của họ. Có những cuối tuần nó vui nhiều vì viết nghuệch ngoạc đầy trang giấy những ý tưởng nó rút ra từ những cuốn sách nó đọc, những bài viết nó tham khảo. Nó cũng thi thoảng quên cả ngủ để cày cho xong những con chữ vì sợ mất đi những điều nó phải sắp xếp lại để có được tí chút gì đó mà nói năng cho ra ngô ra khoai và cho ai đó không ngủ gật gù khi nghe nó nói chuyện.

Hằng ngày, thằng tôi này tiếp tục vất vả học cho trọn cái tình của đời sống xuất gia. Nó luôn thấy mình như chú tiểu chậm hiểu, học mãi những bài học đầu tiên. Nó càng gắng học cho giống anh Thầy Giêsu của nó và chỉ mong giống chút chút thôi; nhưng sao mãi chẳng được gì. Nó không vui vì những thất bại trong bài học, nhưng nó vui vì dường như những thất bại đó đưa nó vào một không gian rộng mở mênh mông của sự Hiện Hữu tinh ròng; nơi tâm hồn nó được chạm đến sự Vĩnh Cửu thăm thẳm như muối vô hình trong từng con sóng nhỏ lăn tăn vuốt ve bờ cát. Thằng tôi không vui vì những lần mệt mỏi chán chường trong những thói quen của ngày sống, nhưng nó vui vì những nhàm chán đó luyện cái tai của nó để nghe được tiếng thì thầm của Thinh Lặng đang vội vã thì thầm vào hồn nó như giọng của hai người đang yêu nhẹ nhàng thủ thỉ bên tim để ánh trăng đêm không vỡ vì tiếng gió của những âm kết nên hai chữ “trung thành.”

Có những cuối tuần chạy việc xa nhà, lái xe giữa những cao tốc văn minh, ngắm nhìn những toà nhà cao tầng  hay những công trình được cho là biểu tượng của văn minh hiện đại, thế nhưng thằng tôi cứ cảm thấy lạc lõng làm sao ấy và nó buồn đến tê tái vì chỉ thấy cái cô đơn tột cùng của những phố phường đông đúc hiện đại. Cũng có những buổi sáng, trên chiếc honda cũ kỹ mượn người từ người anh em, thằng tôi đi cày khi sương còn chưa khô trên cỏ. Nó hòa vào dòng người vội vã đi lấy hàng sớm để kịp chuyến chợ ban mai. Thi thoảng, nó cũng dừng lại để hít lại vào lồng ngực nó những mùi vị thời thơ ấu: mùi của phân còn dính lại nơi mớ rau củ quả, mùi tanh mới của những chú cá tranh dành nhau tí nước trong cái thau chật chội, mùi nóng của thịt dưới cái dao sắc nhọn đang lướt qua lướt lại để ra hàng, mùi tô phở thơm nồng lá quế, mùi hành tỏi thơm lừng trong chảo dầu sôi, mùi thơm của hũ muối mè rắc lên chén cơm  thơm nồng mùi gạo mới, mùi mắm nhĩ thơm lừng làm dĩa rau luộc thêm đậm đà…và tất cả những mùi này dẫn đến những vị đượm tình gia đình và làng xóm láng giềng. Thằng tôi vui sống lại những kỷ niệm với những mùi vị quê hương đó, nhưng nó cũng buồn nhiều vì nếm được những lận đận long đong cùng với đắng cay vất vả của những giọt nước mắt và mồ hôi lam lũ của đồng bào nó.

Hơn cả niềm vui khi thằng tôi này ở giữa những tiếng cười của anh chị em đồng môn của nó để học hỏi thêm những cách sống của họ. Giữa cuộc sống đầy bon chen, xô bồ và phức tạp, thằng tôi này rất vui được dạo bộ với những người bình thường như nó, ngồi ăn nơi quán bên vệ đường, được nghe tiếng lòng nhau với những băn khoăn và thổn thức. Đôi lúc giữa những tiếng cười đó là hình bóng Giêsu đang khóc cứ ẩn hiện mờ ảo trong từng lời tâm sự, từng nỗi đau và hy sinh của kiếp sống rất riêng. Những người đi trước với kinh nghiệm thời gian chỉ ra những lối mòn dẫn đến những nỗi đau cần tránh; nhưng tình yêu thì cứ mời gọi bước vào con đường tình có tên Giêsu để rồi trong Giêsu, anh chị em lại mang vác đời nhau, đôi khi trầy trật khốn đốn của thân xác nặng nề khi giúp nhau quăng đi cục tội, và rồi để  nâng nhau lên trong niềm hy vọng nhẹ nhàng của siêu thoát. Và giữa những nước mắt ê chề của thất bại hay bệnh tật, lại là hình bóng của Giêsu đang mỉm cười duyên dáng trong những cố gắng nhỏ nhoi kín đáo nơi tấm lòng ai luôn sẵn lòng để Giêsu có chỗ hiện diện nơi những phận người nổi trôi. Những bài học nơi sách vở dừng lại nơi cửa của những kinh nghiệm và nhường chỗ cho những chứng nhân cụ thể của cuộc sống.  Thằng tôi càng học làm người càng thấy Thượng Đế quá quảng đại đã tặng ban cho đời quá nhiều những đại nhân cứ âm thầm khiêm tốn làm tròn bổn phận làm người trong vui tươi ngay trước mặt nó; thế mà đôi lần nó kêu ca như kẻ tiểu nhân bày mưu tính kế để giữ cho được những thắng thua của bổng lộc phàm trần. Bài học làm người quảng đại sao khó quá vậy?

Tiết xuân về làm khí trời ấm lên, ngày dài hơn và thụ tạo vươn mình sau giấc ngủ đông để khoe sức sống. Tiết xuân này đúng dịp chay tịnh của cái Đạo Tình. Tiết xuân như điểm khởi đầu mới của tuần hoàn đất trời và mùa chay tịnh nhưng cơ hội mới để thằng tôi sống niềm khát vọng mới. Tiết xuân ấm áp nhưng thằng tôi phải vội vã chạy vào nhà dưỡng lão để ôm cái xác lạnh dần của người anh em nó. Mới cười hớn hở hát mừng sinh nhật vài ba ngày trước đó, mới cho thằng tôi biết ao ước được mặc chiếc áo dòng mới cho ngày mừng lễ vàng linh mục một ngày hôm trước, mới ôm hôn trán và chúc lành cho thằng tôi vào buổi chiều cuối tuần, vậy mà trong tiết xuân này, thằng tôi dâng lễ tiễn đưa người anh của nó về với Vĩnh Cửu. Chuyến trở về này làm thằng tôi nghĩ đến những cuộc trở về cụ thể của mùa chay mà nó phải lên đường. Thằng tôi nhận thấy mình đang lang thang xa nhà như đứa con hoang đàn lang thang khắp bụi bờ lỗi tội. Hiện hữu của anh đã trở về lòng của Cha và xác anh gửi lại lòng đất mẹ. Cả hai cõi lòng đều kín ẩn và lung linh ánh sáng diệu huyền. Anh trở về tro bụi để nở nụ hoa tình chớm nở đến vĩnh cửu trong đức tin. Thằng tôi ngồi bên xác anh và xin anh cho nó gặp anh trong cõi lòng kín ẩn của nó. Nơi cõi lòng kín ẩn đó, nó xin anh đừng để nó đánh mất chính mình, nhưng trở về với Cội Nguồn như anh nhẹ nhàng phó thác nơi cuộc lữ hành này. Thằng tôi biết nó không có tiết xuân ấm áp như mọi người và nó  khóc như đứa trẻ mất món đồ chơi quý

Có những ngày thằng tôi thực sự cảm thấy cô đơn khi bóng đêm về. Trong nỗi cô đơn ấy, nó  xác tín lại những gì nó nhận ra rõ hơn bao giờ hết là không ai có thể sống dùm nó được. Đường đời ai cũng phải đi một mình chứ có riêng mình nó đâu mà nghĩ ngợi gì cho mệt xác. Thế nhưng anh Giêsu cứ lù lù hiện ra ngay trước mặt nó. Nó khóc, Giêsu cũng khóc. Nó cười, Giêsu cũng cười. Nó buồn hay vui, Giêsu cũng theo nhịp ấy mà hiện ra. Giêsu ra hiệu cho nó biết là cũng có cùng xác tín như nó trên hành trình cuộc đời đi tìm một ý nghĩa; nhưng Giêsu muốn “ở cùng” với nó. 

Nghĩ đến nát óc cũng chẳng biết khi ở cùng Giêsu thì được cái gì. Thực ra Giêsu chẳng có gì ngoài cái đề nghị “ở cùng” ấy. Kể cũng lạ, Giêsu cứ lê la theo từng phận người để xin “ở cùng.” Thằng tôi này cũng đã từng mời Giêsu vào “ở cùng” cho bớt nỗi cô đơn; nhưng khi Giêsu ở đó, mọi quyết định của nó trở nên khó khăn khôn lường. Giêsu “ở cùng” để cho thằng tôi không còn giấu được nữa những đê hèn lỗi tội. Giêsu “ở cùng” để thằng tôi bộc bạch hết mọi đảo điên thối tha của cuộc đời nó. Giêsu “ở cùng”chứ không hề sống dùm nó. Giêsu chỉ ở đó để thằng tôi nhận ra bên kia nỗi cô đơn đó là một khao khát và kiếm tìm một lối sống cao hơn nhưng gì là tình, là tiền, là quyền lực đang là là ở mặt đất. Khi khao khát và kiếm tìm như thế, thằng tôi dường như đụng chạm một Giêsu rất người, một Giêsu sống nỗi khốn nạn của kiếp người y chang như nó. Giêsu “ở cùng” để không sống dùm, nhưng trở nên bạn với thằng tôi để chấp nhận cái điên điên khùng khùng, cái mỏng manh dễ vỡ, cái thum thủm vớ vẩn trong phận đời của nó. Thằng tôi ngộ ra rằng cuộc đời là cuộc lữ hành đong đây vui buồn với tiếng khóc tiếng cười, Giêsu đến với đời để rong ruổi chơi bời như bao phận người; nhưng điều khác duy nhất là Giêsu đã chấp nhận  thằng tôi như nó là. Khi chấp nhận nó, Giêsu mang vác hết vào đời mình trong bước đi khó nhọc, trong ngã té thảm thương, và trong cái chết bầm dập để thằng tôi này nhẹ gánh bước thênh thang trong ngang dọc của cuộc đời nó.

Vui, buồn, cười, khóc cũng chỉ là những vòng xoay của mọi biến cố cuộc đời như vòng xoay của  đất trời theo chu kỳ Xuân, Hạ, Thu, Đông. Cuộc lữ hành kiếp người cứ tiếp tục theo vòng xoay đó; và điều quan trọng là sống sao để vượt lên những tầm thường của những vòng xoay. Có lẽ cái tình trong hồn từng người và trong hồn của thằng tôi là cái duyên của đời sống tâm linh, là năng lượng can đảm để có thể bước vào cái lối sống “ở cùng” của Đạo Tình. Cái lối sống “ở cùng” này làm cho cái vòng xoay luẩn quẩn của vui buồn cười khóc của ai đó trở nên con lộ tự do thênh thang. Mong thay ai đó cũng chính là thằng tôi này với khao khát và hy vọng bay cao và bay xa mãi đến tận nơi kín ẩn để học bài học “ở cùng” với Vĩnh Cửu.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nói Điều Khó Nói

Trong những giây phút cuối cùng của mùa Hè và khi vũ trụ chuyển mình sang Thu, thằng tôi dọn dẹp một chút chiếc bàn làm việc và chỉ cần năm, mười phút thì cái bàn đã đâu vào đấy. Tuy nhiên, khi dọn dẹp mùa Hè để có thể nở một nụ cười đón ngày đầu tiên của mùa Thu (21 tháng Chín) đến, thì ký ức bỗng giữ thằng tôi lại với những biến cố chẳng mấy thú vị, có thể nói là thê thảm của một mùa Hè đầy biến động lịch sử. Thằng tôi ngồi vào bàn, lướt vội hộp điện thư,  chợt nhận ra chưa bao giờ nó nhận được nhiều điện thư hỏi về cùng một vấn đề nhiều như thế. Thằng tôi cố nhớ lại cách nó trả lời cho từng điện thư, và dường như mọi điện thư trả lời đều rất ngắn gọn với lời xin lỗi, lời cám ơn và xin cầu nguyện. Thằng tôi biết rất rõ rằng lời xin lỗi, lời cám ơn và xin cầu nguyện không thể thay thế câu trả lời cho vấn đề quá nhạy cảm, quá tổn thương và quá phức tạp dọc theo dòng thời gian và độ dày lịch sử. Dù biết là không thể trả lời một cách thoả mãn và trọn vẹn cho vấn đề phức tạp này, nhưng cũng không thể không đưa ra một nhận định rõ ràng về nó, thằng tôi bỗng muốn chia sẻ suy nghĩ của nó về vấn đề này, không phải để xét đoán hay lên án ai cả, càng không phải để biện hộ, nhưng để sống, đúng hơn là tập sống tình hiệp thông trọn vẹn hơn với những người thắc mắc, những người bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, và nhất là những nạn nhân hay tội nhân của nạn Giáo Sĩ Ấu Dâm.

Để bắt đầu nói điều khó nói, thằng tôi xin phép một lần nữa để nói lời xin lỗi vì trước khi biết và học “mầu nhiệm hiệp thông” của Đức Tin Công Giáo, thằng tôi được học khi nó còn rất bé là “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.” Xin được nhân danh anh em linh mục của tôi, xin được nhân danh các giám mục của tôi, thằng tôi trong tư cách một linh mục Công Giáo xin cúi đầu xin lỗi tất cả về bất cứ lý do gì, và nhất là “sự ấu dâm của giáo sĩ” đã gây ra đau khổ cho rất nhiều người và đã làm cho các tín hữu rời xa Thượng Đế, lung lay niềm tin vào Thượng Đế và mất hy vọng vào Giáo Hội. Xin chấp nhận lời xin lỗi của thằng tôi. Với lời xin lỗi này, thằng tôi, với tất cả chân thành của nó,  muốn “bỏ cỏ với cả tàu” và đau cùng nỗi đau của bất cứ nạn nhận nào trong lãnh vực này. Nói lời xin lỗi này, thằng tôi không bao giờ nghĩ và cho phép mình đứng ngoài hàng ngũ tội nhân trong lòng Giáo hội. Thằng tôi luôn là một tội nhân mãi cần lòng thương xót và tha thứ của Thượng Đế và của anh chị em nó.

Thằng tôi muốn cám ơn tất cả những ai đã nhắc nhở nó về nạn ấu dâm này trong Giáo Hội. Lời nhắc nhở này có giá trị giáo dục, giúp thằng tôi luôn ý thức thân phận mỏng dòn của chính mình dù vững tin rằng hình ảnh thằng tôi mang trong mình khi được tạo dựng là thánh thiện. Niềm tin đã dạy thằng tôi như thế và rất nhiều khi vô tình hay cố ý, thằng tôi này quên đi sự thánh thiện ban đầu nó nhận được khi còn là bào thai trong lòng mẹ. Không chỉ có niềm tin dạy nó như thế, nhưng cả trong nền văn hóa Khổng Tử nó được học để có được mọi liên hệ nhân vị chuẩn mực trong xã hội: “nhân chi sơ tính bản thiện.” Với lời cám ơn này, thằng tôi muốn tuyên xưng lại bản chất của Giáo hội mà nó là một thành phần nhỏ nhoi: “tôi tin Giáo hội thánh thiện.”

Có đủ không khi nói lên lời xin lỗi và lời cám ơn trước những nỗi đau mà nhiều người đã và đang trải qua vì nạn giáo sĩ ấu dâm? Chắc chắn là không!

Cần hơn lời xin lỗi và lời cám ơn là một sự hiểu biết rõ rằng về sự việc. Có lẽ phải nhìn lại vấn đề một cách rõ ràng là Giáo Hội Công Giáo đang trải qua cơn bão của của nạn “giáo sĩ ấu dâm.” Trong cơn cuồng phong này, có hai ngọn gió mà sự cộng hưởng của nó làm cho thiệt hại thêm nặng nề. Thứ nhất là “giáo sĩ” – những người không những là thầy dạy về Thượng Đế/tôn giáo, nhưng họ trở thành biểu tượng của sự hy sinh, sự thánh thiện và khuôn mẫu trong lối sống cho người tín hữu. Với bản chất như thế, tội họ trở nên nặng nề hơn và họ bị lên án nặng nề hơn. Kế đến là “ấu dâm” – lạm dụng tình dục với trẻ vị thành niên. Đây là một tệ nạn làm tổn thương đến tâm lý con người ở mức độ thê thảm nhất. Vậy hiểu biết thế nào là rõ ràng.

  1. “Giáo sĩ” không phải là vấn đề của nạn ấu dâm. Đây là vấn đề của con người nói chung, vì bất cứ ai cũng có thể phạm lỗi này vì bất cứ lý do gì. Bất cứ ai, một cách công tâm, đều biết rằng nạn ấu dâm không chỉ xảy ra với giáo sĩ, nhưng với tất cả mọi ngành nghề: từ giới truyền thông giải trí đến các chính trị gia, từ giới nghệ sĩ đến các nhà giáo, từ công nhân đến bác sĩ kỹ sư, từ bần cố nông đên các phú gia giầu có, … Bất cứ ai đều có thể là đối tượng của tội phạm này.
  2. Trong bối cảnh xã hội bàn nhiều đến các khuynh hướng tính dục khác nhau, chúng ta không được phép đánh đồng ấu dâm với một khuynh hướng tính dục nào đó. Nạn ấu dâm hoàn toàn khác với khuynh hướng tính dục. Ấu dâm là xâm hại tình dục trẻ vị thành niên – người chưa trưởng thành đủ về thể lý và tâm lý. Tệ hơn nữa chính là sự cưỡng ép và bạo hành dẫn đến những chấn thương và dị tật (tinh thần, tâm lý và thể lý) trong việc phát triển thành một con người bình thường.

Lời xin lỗi và lời cám ơn liệu có biến thành liều thuốc tiên ngăn chặn con người không còn vướng vào lầm lỗi này? Chắn chắn là không!

Cần thêm vào lời xin lỗi và cám ơn những biện pháp cụ thể để điều này không tái diễn. Khó có thể nói là có một biện pháp cụ thể để lỗi lầm này biến mất hoàn toàn. Mọi cố gắng để có được một biện pháp tối ưu luôn được nghĩ đến cho dù phải dùng những cung cách “không khoan nhượng.” Để có được “thuốc đắng dã tật” những người có trách nhiệm “tìm thuốc đắng” và những người “cho liều thuốc đắng” cũng có những giới hạn của một con người. Vậy làm sao hạn chế tối đa, nếu không nói là loại bỏ lỗi lầm này ra khỏi cuộc sống của mọi người và của Giáo Hội

  1. Chọn một nền giáo dục lấy sự thật làm tiêu chuẩn và chỉ dựa trên sự thật mà thôi. Sự thật đích thực luôn luôn chỉ có một. Sự thật đích thực là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và là hình ảnh của Thiên Chúa. Khi sự thật này không được nhìn nhận, không được tôn trọng, thì lỗi lầm huỷ hoại hình ảnh này là đều dễ hiểu. Khi con người phạm tội, chính là lúc con người không còn ý thức đến sự thánh thiện nữa. Có rất nhiều cấp độ của cơn cám dỗ, nhưng mọi cám dỗ sẽ dừng lại trước sự ý thức về sự thánh thiện. Con người phạm tội vì con người không còn sống với Thiên Chúa là sự thánh thiện trọn hảo nữa. Nếu việc đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống là một sự cố tình, thì mọi sự kế tiếp sẽ theo chiều hướng đối ngược với sự thánh thiện. Đây chính là cám dỗ mà tất cả mọi người đều cần sự can đảm phi thường để chống lại, nhất là những người có chức quyền.
  2. Sự hiệp thông và lòng thương xót khác với sự đồng loã. Chắc chắn là cuộc sống không bao giờ cho chúng ta có những gì chúng ta muốn. Để dễ có những điều mà mình ao ước, sự thoả hiệp đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Phải tập sống tỉnh táo để biết rõ giới hạn của chính mình và những ranh giới không thể vượt qua. Biết những giới hạn của chính mình và chấp nhận những giới hạn đó là cách sống mà chúng ta cần tập từng ngày. Trong cách sống này, chúng ta sẽ luôn cần sự giúp đỡ của người khác và của Thượng Đế. Qua sự giúp đỡ này, sự hiệp thông trở nên lá chắn giúp từng người vuợt qua những làn tên tấn công của những cám dỗ tồi tệ. Việc ý thức về sự hiện diện của Thượng Đế giúp con người không vượt qua những ranh giới quyền lực cho phép, vì tất cả mọi người đều bình đẳng và duy chỉ Thượng Đế là vị có tiếng nói cuối cùng. Kinh nghiệm về lòng thương xót của Thượng Đế giúp từng người bước đi một cách khiêm tốn với ý thức về sự thánh thiện của Ngài.

Việc xin cầu nguyện có cần không để loại bỏ những ước muốn dục vọng, để chữa lành những vết thương, để xây dựng một cuộc sống ít bị huỷ hoại? Chắc chắn là có!

Việc cầu nguyện có vẻ như mơ hồ với nhiều người vì nó vô hình lắm, nó riêng tư lắm, nó khó lý giải lắm. Nhưng cũng chính vì vô hình, riêng tư và khó lý giải đó khi đủ độ chín mùi, nó trở thành những “kết nối tâm linh” và làm cho con người có được những cái “ngộ” trong cuộc sống trước những mầu nhiệm của riêng mình.

  1. Niềm tin vào Thượng Đế luôn là một ngọn nến nhỏ nhoi cần được bảo vệ trước những sóng gió của cuộc đời. Nó chỉ đủ sáng để soi đường cho một bước chân đặt xuống trong vững chãi của một hành trình rất dài. Dù nhỏ nhoi như thế, nhưng từng người rất cần niềm tin để bước  đi một cách vững vàng không vấp té, vì hành trình của một đời người chính là những từng bước chân nhỏ nhoi ấy kết lại.
  2. Trên hành trình cuộc đời ấy, những bảng chỉ đường và những điểm dừng chân là cần thiết nhưng không phải là đích đến. Hành trình của từng người có những bảng chỉ đường khác nhau và có những điểm dừng chân khác nhau; nhưng tất cả đều có cùng một đích đến là Thượng Đế. Hãy tin vào Thượng Đế chứ đừng tin vào người nào cả. Trên hành trình đó, người khác có thể là bảng chỉ đường, có thể là điểm dừng chân, và có thể là người đồng hành. Kinh nghiệm của lịch sử để lại cho chúng ta là tất cả những ai dừng lại ở những điểm trên, họ dễ dàng thất vọng với những sóng gió của thời cuộc. Hãy tiếp tục tin vào Thượng Đế là đích đến của hành trình cuộc sống để hành trình được tiếp tục, cho dù có những khoảng khắc thật dài không thấy bảng chỉ đường, không có một điểm dừng chân, và đôi khi chỉ một mình vì người đồng hành đã rẽ lối.
  3. Hãy cầu nguyện để cương quyết hơn với tội lỗi và hiền dịu hơn với tội nhân. Cầu nguyện để có được cặp mắt của Thượng Đế để nhìn, có được đôi tai của Thượng Đế để nghe, có được đôi tay của Thượng Đế để hành động, có được con tim của Thương Đế để sống và có được suy nghĩ của Thượng Đế để phán đoán. Điều này không thực sự dễ dàng. Có lẽ đây là cách duy nhất làm cách mạng trong Giáo Hội. Lịch sử của Giáo Hội đã chứng minh điều này là chính trong những lúc Giáo Hội bị khủng hoảng đến tột cùng, người thay đổi khuôn mặt Giáo Hội và làm cho nó nên mới chính là những người sống gần Thượng Đế, sống như Thượng Đế. Bất cứ ai, dù có chức vụ hay không chức vụ, dù định cư ở thành thị hay nông thôn, dù học thức hay không, dù nữ hay nam, dù già hay trẻ, tất cả…đúng vậy, tất cả đều có thể trở thành nhà cải tổ giáo hội bằng chính cuộc sống thánh thiện của mình. Thật khó để trở nên thánh thiện khi cắt đứt với nguồn cội thánh thiện là Thượng Đế. Bởi vì ai ai cũng biết một cách rõ ràng là lời cầu nguyện chính là cách tiến gần đến Thượng Đế.

Với những suy nghĩ cỏn con như thế, thằng tôi này mong lời xin lỗi và lời cám ơn của nó đượm lời cầu nguyện. Nếu ai đó rủa vả vì nó vì nó khoác lên mình bộ tu phục linh mục, nó xin đón nhận để tập sống tình hiệp thông sâu xa với Giáo Hội của nó. Nếu ai đó xua đuổi nó vì nó là một giáo sĩ, nó xin đón nhận sự xua đuổi đó chứ không từ bỏ niềm tin của nó. Nếu ai đó cho nó cơ hội để làm bảng chỉ đường, để làm điểm dừng chân, nó xin đón nhận để có cơ hội nói lên lời xin lỗi, lời cám ơn, và nhất là xin được cầu nguyện cùng với ai đó đã cho nó cơ hội quý giá được biết họ. Tất cả mọi người không trừ một ai đều có thể phạm tội. Nên bất cứ ai phạm tội, ta cần có thái độ nghiêm khắc với tội, nhưng luôn cần có một thái độ đối xử đúng với tất cả mọi người trong nhân phẩm mà họ được sinh ra. Đã có những cơ quan có thẩm quyền với những trách nhiệm được giao để thi hành những biện pháp nhằm hạn chế bớt lỗi tội và để cho sự công bằng được thực thi; và từng người chúng ta được mời gọi đóng góp vào công việc này dựa trên sự thật của từng trường hợp. Song song với điều đó, việc tìm hiểu để có thêm kiến thức về vấn đề này, về Giáo hội sẽ làm cho phán đoán của từng người chúng ta công bằng và chính xác hơn.

Một mùa Hè trôi qua với những cơn bão hoành hành và ký ức mang thằng tôi đến những nơi bị cơn bão biến thành đống hoang tàn. Là một phần của lịch sử đau thương này, thằng tôi ngẫm nghĩ nhiều lắm về chính bản thân của nó với nhiều lỗi tội trong cuộc sống. Sự ý thức về thân phận tội lỗi của nó thật rõ ràng; nhưng sự nặng nề của lỗi tội không dập tắt được trong nó một ước muốn vươn lên và trở nên thánh thiện hơn. Lịch sử của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo nói riêng và của xã hội nói chung đã bao lần chứng kiến những hoang tàn như thế. Nhưng cũng từ trong những hoang tàn ấy, những ao ước trở nên tốt hơn mỗi ngày sẽ vươn lên như những con chim ưng vút lên trời cao. Trước những hoang tàn ấy, đã có những bài học được nhận ra, đã có những giải pháp được đề nghị, đã có những áp dụng được thực thi. Trong những cố gắng hết sức để lịch sử không lập lại, dù chưa hoàn hảo hay chưa thoả mãn ai đó về vấn nạn này, vẫn phải công nhận là có một sự chuyển biến tích cực thực sự. Lịch sử sẽ đưa ra những phán đoán công-tội cho từng hành trình, từng con người, từng tổ chức, nhưng Thượng Đế, Đấng vượt lên trên hết tất cả những điều ấy sẽ có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói ấy đã cất lên lúc rõ lúc mờ. Có người nghe được và người không nghe được. Có người ao ước nghe và cũng có người cố tình không nghe. Dù ở mức độ nào và thuộc nhóm nào, từng người sẽ phải đối diện với Thượng Đế để kể với Ngài hành trình họ đã đi qua. Thằng tôi cầu nguyện và hy vọng để nó luôn tập nghe tiếng nói đó từng ngày trong hành trình, để khi gần đến đích, Thượng Đế nhận ra nó và tiếng nói của Ngài không xa lạ như lúc nó đang rong ruổi trên đường đời. Trong thời gian cho đến ngày nó gặp Thượng Đế diện đối diện, thằng tôi sẵn lòng chia sẻ thêm để học hỏi thêm, lắng nghe thêm để gánh bớt nỗi đau, và cầu nguyện để sống tốt hơn từng ngày dù hay thất bại.

(Ngày cuối Hè 2018)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đối Diện

Bước vào thật sâu trong cõi lòng mình, ngồi thật lâu trong thinh lặng, nghe thật kỹ những tiếng thì thầm, có lẽ ai cũng biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ biết hết được chính mình, hoặc biết hết về những con người đi ngang qua đời mình. Có đúng không khi nói rằng: mọi người đều có một kinh nghiệm giống nhau nơi thẳm sâu đó. Một kinh nghiệm về một ao ước thẳm sâu được biết rõ mình là ai và ai ai cũng nhận ra có Ai Đó lớn hơn chính bản thân mình và cũng lớn hơn cả những gì mình có thể nghĩ ra.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể bước ra khỏi thời gian một cách dễ dàng để sống (lại) một câu chuyện cuộc đời thật riêng và đủ sắc mầu. Trong câu chuyện rất riêng ấy, mọi khía cạnh về thể xác, về tâm hồn, về trí thức, và về tình cảm lần lượt hiện ra thật rõ như bóng nắng được mặt trời chiếu trên đất trong một ngày nắng đẹp. Khi câu chuyện rất riêng ấy được sống cho thật đầy, cho thật tới, cho thật sâu, mọi sự dù rõ rằng đến mấy cũng không thể diễn tả được. Mọi ý tưởng và ngôn ngữ trở nên thật giới hạn vì dù có diễn tả kiểu nào cũng thấy nó thiếu thiếu làm sao ấy. Nhưng chính trong sự giới hạn đó, Ai Đó lại rất thật và rất gần.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể nhắm mắt mà vẫn nhìn rõ từng con người, từng sự vật, từng mối liên hệ, và từng ngóc ngách của tâm hồn nó. Mọi sự trở nên đẹp đến lạ lùng và có sức hút mãnh liệt không ai có thể cưỡng lại được như chú ong sẵn sàng bay đến cả ngàn dặm để được chạm đến cái nhụy hoa đầy phấn và mật. Khi đôi mắt nhắm ấy dám vươn tới những đối tượng thật xa, thật lạ, thật bất lực, mọi sự dù có là gì đi nữa cũng trở nên đẹp đến ngất ngây. Trong cái ngất ngây nơi cõi thẳm sâu ấy, đôi mắt trở nên bàng bạc mênh mông đến lạ. Đôi mắt nhắm bỗng được biến đổi thành sự cởi mở linh thiêng. Dù bay thật nhanh và thật xa, đôi mắt nhắm được Ai Đó đồng hành trong lung linh và làm cho thoả mãn trong những tiếp xúc cụ thể với từng tạo vật nhỏ bé li ti như cái ôm thật chặt và thật lâu của hai người tình.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể đụng chạm đến những hiện hữu dù tay vẫn cuộn tròn trước lồng ngực. Mọi hiện hữu khác trở nên như con dấu khắc ghi lại những niềm hạnh phúc tròn đầy của sự tự do trọn vẹn, nhưng cũng không quên ghi lại những trầy xước của tâm hồn mà tê tái tạo nên. Khi để cho buồn vui sướng khổ đan xen với lòng trắc ẩn theo năm tháng, con người sẽ vững vàng hơn với độ dầy của can đảm. Khi con người không để cho sự dửng dưng cột chặt vào những ích kỷ vụ lợi, nó bỗng đối diện nhiều hơn trong trách nhiệm để những hiện hữu khác, dù khác biệt tột cùng, vẫn sống vui sống khoẻ. Trong những đụng chạm đó, sẽ không có sự tồn tại của những chủ mưu hất hủi hay những bách hại cố tình; bởi vì trong mọi quan hệ liên vị, Ai Đó không hề hao mòn, nhưng vẫn lớn dần lên như một lớp keo níu chân con người trước những chạy trốn đôi khi cả chính bản ngã mình để tìm sự dễ dãi.

Nơi thẳm sâu đó, con người hít vào thở ra dòng khí của vũ trụ trời đất rất trong lành và dịu êm nhưng cũng ngột ngạt và nặng nề của muôn vàn lo lắng. Bước ra bước vào nơi lồng ngực mình, ai ai cũng ngại ngùng giữ lại những thổn thức dồn nén như tiếng kẽo kẹt của sàn gỗ lỏng đinh khi đôi chân nặng nề rón rén từng bước giữa đêm khuya vắng. Khi hơi thở ấy quyết định nuốt xuống những cô đơn tột cùng của chính mình để tiếp tục những bổn phận nhàm chán hàng ngày, con người bỗng thở ra những hương thơm của kiên nhẫn và lòng sẻ chia. Lúc ấy, cái hít thở nhẹ nhàng bỗng nâng con người lên cao hơn những giằng xé nội tâm giữa muôn con người, dẫn con người vào đúng vị trí của mình trong thứ trật tự lộn xộn giữa muôn muôn vật đang tìm một chỗ đứng đúng, và giúp con người buông bỏ những áp lực giả tạo của cái hào nhoáng bên ngoài giữa những tiêu chuẩn rẻ tiền. Trong hơi thở chầm chậm đó, Ai Đó bước vào bước ra trong lồng ngực như nhịp gõ nhẹ để bước chân của hơi thở không trật nhịp theo điệu nhảy.

Nơi thẳm sâu đó, con người lắng nghe được tiếng thì thầm vang vọng lại từ tận cùng của không gian. Vũ trụ vạn vật trở nên nhỏ bé đến không ngờ khi ai ai cũng đặt tai mình bên tiếng khóc của những thân phận bất công đang quằn quại để sống còn trong tiếng búa rìu chát chúa của những dối lừa và quyền lực. Khi nghe được tiếng âm ỉ nơi cõi lòng của muôn người muôn vật như thế, con người trở nên bất tử khi dừng lại cuộc sống mình để sống cùng-sống với những hiện hữu khác. Khi tiếng thì thầm vang vọng lại như những nhịp cầu nối những nỗi đau, con người cảm nhận sức mạnh của hiệp nhất mà chúng có thể bẻ gãy được những kìm kẹp của tiếng đời. Trong khoảng khắc ấy, con người vẫn nghe được những trầm bổng của bản tình ca hiệp thông mà Ai Đó đang hát nhẹ nhàng say đắm giữa những náo động ồn ào chói tai của dòng đời nổi trôi.

Cái cõi lòng thật lạ làm sao. Nó xoá đi không gian thời gian của thân phận con người. Nơi con người được khao khát thông hiểu mọi sự về chính mình. Nơi cõi lòng này, có một sự đối diện bắt buộc để nhận ra chính mình là ai. Nơi cõi lòng này, con người được nếm thử thiên đàng và hỏa ngục như thế nào. Có lẽ lắm người thích và cũng không ít người muốn quên cõi lòng này vì nó làm cho cuộc sống họ đảo lộn nhiều quá và thằng tôi mang cả trong hiện hữu nó hai khuynh hướng ngược nhau này.

Thằng tôi gọi Ai Đó là Thiên Chúa của nó. Nó bước vào cõi lòng nó và luôn khao khát được hiện diện, đối diện với Chúa của nó ở đó. Thằng tôi bước vào sự hiện diện đó và ao ước lớn nhất của nó là được bước theo thật gần Thiên Chúa của nó. Nhưng cũng chính nơi đây, nó nhận ra cả tháng vừa qua, con người nó mệt mỏi với những công việc và bệnh tật, cô đơn nhiều với những hiểu lầm và thị phi, chán nản nhiều với những khó khăn dồn dập. Thằng tôi biết là trong sự đối diện này, nó được lớn lên và can đảm hơn để sống chậm lại trước những mệt mỏi, nhẹ nhàng buông bỏ hơn trước những cô đơn của đời tu, phó thác hơn với những dự định cho công việc và khiêm nhường hơn nữa trong từng ngày sống.

Thằng tôi bước ra khỏi thời gian thật nhiều để sống câu chuyện cuộc đời nó; thế nhưng Thiên Chúa trả nó về lại trong thời gian để nó gần hơn với những giới hạn của con người nó trong tâm tư tình cảm, và gần hơn cả những bài học mà nó cần phải học. Bước ra thời gian để gặp Thiên Chúa và phải bước lại trong thời gian để thật gần Ngài. Và khi gặp Ngài và gần Ngài, thằng tôi chỉ biết lặng im để sự đối diện rõ dần hơn trong từng phút sống.

Thằng tôi muốn nhắm mắt lại thật nhiều để nhìn rõ mọi sự trong cái lung linh và thoả mãn; thế nhưng Thiên Chúa mời nó mở mắt ra để mà ngắm nhìn thật xa, thật lạ dù có nhạt nhòa bởi những dòng nước mắt thế trần. Nhắm mắt lại để bước đi trong vẻ đẹp ngất ngây của vạn vật luôn là kinh nghiệm đáng giữ và phải mở mắt ra để nhận ra Chúa của nó cũng tiều tụy, hôi hám, nghèo khổ và xa lạ nơi những người thật nghèo mà ngài chọn để gửi trao hình ảnh Ngài. Mở mắt ra để mà ôm lấy Chúa của nó vào lòng nơi những người bị cuốn trôi sau cơn lũ thật xa xăm nơi đất Lào, đất Bắc, nơi những nạn nhân của bà hoả thật xa tận trời Âu. Mở mắt ra để mà khóc với những người thân yêu của những nạn nhân trong tích tắc của tai nạn giao thông và nạn nhận khóc dở chết dở của chủ mưu hàng giả vacxin, hay trong tiếng nghẹn ngào của nhưng người ngó nhà trôi xa và chìm dần theo con nước. Thằng tôi nhắm mắt để nhìn vạn vật và phải học mở mắt ra mà nhìn Chúa của nó ngay bên cạnh mình,

Trong cõi lòng sâu thẳm, thằng tôi đụng chạm nhiều đến các mối liên hệ từ gia đình đến bạn bè, từ anh em bạn tu đến những người nó phục vụ, từ nhân viên làm việc đến những người thong thả rong chơi. Thằng tôi ở giữa muôn người, đụng chạm vào muôn người nhưng cái cô đơn lại cứ lớn dần lên vì vẫn còn mỏi mong một cuộc gọi, vẫn nhớ chờ một lá thư, vẫn ước mong một lần gặp mặt… Bước vào cõi lòng để gặp mọi người và đụng chạm đến tất cả; thế nhưng Thiên Chúa đặt nó vào lại dòng đời với những giới hạn của đời tu và của phận người để nó đụng gặp gỡ và đụng chạm vào nỗi cô đơn cần phải có để học bài học tự do. Sao dễ thế khi nói trong cõi lòng là buông bỏ để mọi sự tự do dù có yêu đến mấy; nhưng sao khó quá khi đối diện với nỗi cô đơn của ngày sống để rồi muốn nắm giữ cái tình , muốn vơ vào cho mình cái tiền, và muốn nâng cao lên cái danh vọng bên ngoài. Thằng tôi đụng chạm vào cái sâu thẳm bên trong nhẹ nhàng lắm. Tốt thật đấy, nhưng phải học sống cùng nỗi cô đơn và khô khan của cuộc đời để dẹp cuộc đời dễ dãi sang một bên, để tu cho kỹ mà buông bỏ hết những gì làm nó không thể đụng chạm được Thiên Chúa.

Thằng tôi muốn hít thở và bay bổng trong hoà bình và công lý. Nó muốn nghe được bước nhảy của bước chân làm người gần người hơn; thế nhưng Thiên Chúa mời nó bước vào trong ngột ngạt của bất công và bước đi cùng với những con người có xương có thịt. Sao dễ quá khi ngồi trong phòng, đọc những hàng chữ cỏn con rồi lên giọng với bức tường trước mặt; nhưng sao khó quá khi gõ cánh cửa công để tìm công lý cho người khác bằng tay của mình và hít thở với họ cái không khí của dùi cùi bạo lực. Sao dễ quá khi từ chối một cuộc gọi đến vì điện thoại thông minh cho biết người gọi là ai; nhưng sao khó quá để gặp và để nghe đích thực tiếng ha ha, hu hu ở khu ổ chuột. Sao dễ quá khi xuống nhà bếp lấy thức ăn và thưởng thức lon bia có sẵn trong tủ lạnh; nhưng sao khó quá để đút miếng cơm cho người thân nơi giường bệnh và lắng nghe tiếng khò khè qua đôi môi mấp máy của người anh em bán thân bất toại đang ngồi xe lăn. Cái bài học sống cùng-sống với mà Thiên Chúa dạy nó qua từng hơi thở trong cõi lòng có bài tập ở ngay cuộc đời này. Để khỏi phải rớt kỳ thi, thằng tôi biết mình phải học nhiều lắm để mà sống cái tình liên đới và hiệp thông cho đúng nghĩa.

Thằng tôi ngồi thẫn thờ không biết ở trong cõi lòng bao lâu và không nhớ đã nói gì với lần đối diện này. Nó gục đầu vào bàn tay và nghe Thiên Chúa ngỏ lời với nó trước về những sự thật cuộc đời nó, về công việc nó làm, về các mối quan hệ của nó, về gia đình nó, về nỗi sợ của nó, về mọi sự của nó… là Ngài biết những lần nó vấp ngã, Ngài biết những cố gắng của nó. Ngài biết những lúc nó biết là nó đang làm sai điều gì đó. Ngài biết những xấu hổ ngại ngùng khi nó gắng bước đến trước sự hiện diện của Ngài để thú xưng lỗi tội. Trong bóng tối, chỉ có nó ngồi đối diện với thánh giá và nhận ra câu trả lời trong thinh lặng. Câu trả lời về cuộc đời nó được Giêsu-Người đối diện trả lời trong thinh lặng vô cùng của thập giá. Thằng tôi nhận ra và tập bước ra khỏi dòng người đi tìm cái đẹp ở đâu đó. Nó nhận ra rằng cái đẹp không là một sự vật sở hữu được; nhưng cái đẹp là một cách nhìn muôn người muôn vật, và cũng là lối sống. Khi nó sống cho tới, sống cho đầy, nó biến tan dần và trở nên vô hình. Khi nó sống cho hết, sống cho trọn, nó biến thành một phần của cái Đẹp tuyệt đối bởi vì cái Đẹp tuyệt đối ấy lớn hơn nó nhiều, lớn hơn cả những gì nó có thể nghĩ ra; và cũng chính cái Đẹp tuyệt đối ấy cho nó cái kinh nghiệm vượt lên những giới hạn để sống một chút ngoài không gian và thời gian.

(Ngày cuối cùng của tháng Bẩy, 2018)
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nghe Gì khi Tình Yêu Lên Tiếng?

(Mến gửi các cha, thầy cô, bạn bè, ân nhân, thân nhân, và anh chị em, những người thằng tôi được gặp và làm việc  trong chuyến đi ngắn ngủi.)

Cả tháng Sáu, thằng tôi ra khỏi cái phòng nhỏ của nó, rời cái bàn làm việc hằng ngày, bỏ lại cái giường thoải mái để đi một nửa vòng trái đất, đến một nơi nó gọi là nhà, là quê hương, là hàng xóm, là cộng đoàn. Nó đến để gặp gỡ cha chú, thầy cô, bạn bè và anh chị em, hiện diện với người nghèo và thiếu may mắn, làm vài việc cá nhân, làm vài việc chung và nhất là để học hỏi thêm như cha ông nó dạy: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”

Ngày về, cái túi nhỏ thằng tôi hay dùng trở nên chật trội. Cái balô vẫn chứa đôi ba cuốn sách, vài vật dụng cá nhân và chiếc áo dài trắng, nhìn nó với vẻ lạ lẫm hơn khi nó cố nhét thêm vài ba thứ gọi là kỷ niệm. Thằng tôi nói lời chia tay với anh em, leo lên chiếc honda khi mặt trời chưa đủ nóng, và nó bắt đầu nhớ lại…

Thằng tôi nhớ…
nhớ cận kề ngày ra đi, nó còn chạy túi bụi để tổ chức lễ mừng các cha kỷ niệm thụ phong linh muc từ 60 năm đến 74 năm. Chủ tế giữa những cha già với chiếc xe lăn hay với cái gậy, nó cười nói vui vẻ vì mọi người hạnh phúc với muôn vàn lời chúc mừng. Thật vui và hạnh phúc, nhưng có lẽ không phải là sàng khôn nó học. Thằng tôi trong lòng thấy nhói đau vì nó thấy mình chưa yêu đủ, chưa dám sống dấn thân đủ, và chưa trung thành đủ với ơn gọi. Nó thấy qua những thân hình tiều tuỵ và bệnh tật là những nụ cười nhẹ nhàng và ánh mắt đượm tình. Đây là cái sàng khôn cần học. Học để trung thành với tình yêu và để cho tình yêu chăm sóc mình.

Ngoài hình ảnh của các linh mục, thằng tôi nhớ bao người đã rất quảng đại giúp đỡ nó trong việc tổ chức lễ, nhất là khâu ẩm thực. Thời gian ngồi chờ lên máy bay không đủ để nó điểm lại từng khuôn mặt đã giúp đỡ nó dù âm thầm hay công khai. Thằng tôi khóc thật hạnh phúc vì cảm nghiệm được những người này đã sống thật khôn ngoan bằng cách để tình yêu lên tiếng trong cuộc đời họ; nhưng nước mắt đó cũng xấu hổ làm sao ấy vì thằng tôi thấy mình chưa học được bài học quảng đại dù tình yêu đã nhiều lần lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lúc chân nó chạm đất sau chuyến bay dài, nó được sống tình cảm ấm nồng qua ánh mắt trao nhau, những cử chỉ giúp đỡ nhẹ nhàng và nhất là những sự sẵn lòng của người anh/em đã uyển chuyển theo thời gian hạn hẹp của nó để giúp nó thay đổi những giấy tờ cần thiết. Sự giúp đỡ này đã làm cái lòng nó bớt lo lắng một chút khi nó đi đến cửa quan, nơi mà nó cùng gia đình nó đã từ lâu lắm rồi, có những ngăn cách theo bản tính tự nhiên của thời cuộc. Nó nhận ra món quà nó nhận được đến từ trời cao, nơi niềm tin trở thành chiếc cầu kết nối những nhịp tình để luôn có những mảnh đời toả hương lòng dù đang sống trong cuộc đời vốn dĩ để tâm lo chuyện cơm áo gạo tiền. Thằng tôi sung sướng lắm khi thực sự được yêu thương và được lo lắng như thế, nhưng cùng lúc đó, nó thấy mình thật tệ vì nhiều lần không dám đi bước trước để gỡ bỏ cái nút thắt thời cuộc, ít là trong lòng nó. Thằng tôi cúi mặt viết bài học khôn vào tim mình để cuộc sống nó không phải luôn hí hửng với hương lòng nhận được từ ai đó, nhưng là tập sống cho ra sống, để cái lòng nó có tí hương mà toả bằng cách lắng nghe thật kỹ khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lắm tuổi học trò của hơn 30 năm về trước. Rất lâu rồi, thằng tôi mới có được những khoẳng khắc đượm tình thật vui bên thầy cô và bạn bè của thời trung học. Tuy cuộc sống dắt mỗi thành viên của lớp A2 mỗi người trên một con đường khác nhau, nhưng thằng tôi vẫn luôn cảm thấy có gì đó rất thương mến và vẫn luôn là một chút linh thiêng để nhớ để thương. Lần gặp nhau này, những kỷ niệm ngày xưa ùa về và tất cả những mắc cỡ ngại ngùng của ngày xưa nhường chỗ cho những chia sẻ chân thành. Cuộc sống vốn vẫn khó khăn và ai ai cũng bước đi với những nỗi đau rất riêng của từng người; nhưng A2 vẫn mãi là nơi để những bước chân của những nam thanh nữ tú A2 thời xa xưa ấy dừng lại, ngồi lại với nhau để mà cười mà khóc với nhau. Thằng tôi về lần này được cười được khóc thật nhiều, được ăn uống ngon, được đi lại những con đường xưa, được dầm mưa Đàlạt, được nói những gì không dám nói, được ngồi quán nhỏ ngắm thông Đàlạt, được nghe những tiếng lòng, được hỏi chuyện riêng tư, được nhắc đến những gì là kỷ niệm, được sống lại cái hồi hộp của thời đi học. Cái tình A2 thật đẹp đã, đang và sẽ mãi làm cho cuộc sống thằng tôi thêm phong phú. Đêm về, không ngủ được vì hạnh phúc, nhưng có lẽ thằng tôi thao thức nhiều hơn vì nó thiếu nhiều những khoảng khắc làm phiền đáng yêu trong trường đời khi tình yêu lên tiếng với nó.

Thằng tôi nhớ…
nhớ chủ đề của bài nói chuyện của nó trước hơn 100 người “Điều Cuối Cùng Còn Lại là Tình Yêu” mà nó được đặt hàng trong chuyến đi. Trong những ngày chuẩn bị, thằng tôi chỉ sống bằng cái đầu để cố hấp dẫn người nghe nó bằng những lý luận về một (công thức) tình yêu. Có gì đó không ổn với một tình yêu đầy những lý luận. Thằng tôi chợt nhận ra là phải ra khỏi cái đầu đầy bã đậu của nó để tình yêu tự do bay nhảy với tiếng sáo tình ngân nga từ con tim. Nó thầm thĩ xin Bác Giêsu chỉ dạy. Bác cười và nói: hãy gắng mà nghe và làm theo khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ khi nó đón những ánh mắt ngại ngùng của những người xung quanh từ khu phố nghèo của đảo quốc nổi tiếng là sạch sẽ và giàu có. Thằng tôi cố không so sánh căn phòng hội họp tiện nghi với con đường kín đầy hàng quán tràn ngập những nhu yếu phẩm ba xu mà nó đang rảo bước giữa cái oi bức mùa hè vùng nhiệt đới. Thỉnh thoảng, những con gió nhẹ rượt đuổi nhau giữa những căn nhà nhỏ hẹp chật chội không những không được cư dân chào đón nhưng còn bị la ó và xua đuổi vì nó cõng theo những mùi hôi thối từ những thùng rác to lớn dù đã được che đậy cẩn thận dọc theo vỉa hè. Dù đã được cho thông tin trước, thằng tôi vẫn cảm nhận khu phố này thật lạ. Khu phố náo động dần lên, tỉ lệ thuận theo bóng tối. Các thanh niên thiếu nữ tách biệt nhau tụ ba tụ bẩy trong áo quần sặc sỡ như những chấm nhỏ chấm to trang điểm cho khu phố thiếu ánh đèn đường. Ngồi bệt xuống với những người xa lạ, thằng tôi giới thiệu mình và đưa thẻ căn cước linh mục để làm tin và bắt chuyện. Thằng tôi nghe được nhiều và chìm dần vào những câu chuyện của “con cò mà đi ăn đêm” và cũng rất nhiều con “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống” ao tù cạm bẫy của nô lệ. Thứ nô lệ được che giấu dưới những nét son và những bộ đồ sặc sỡ. Khi mặt trời trở mình muốn dậy, những tụ năm tụ bẩy thưa dần, nhưng không còn náo động mà thất thểu như ma đói. Thằng tôi mời vài tụ vào hàng quán không biết để điểm tâm hay ăn tối, nhưng sau đó chắc chắn là những cơn ngủ mệt nhoài và lo âu trong thân phận của kẻ nhập cư nghèo, bán thân đi tìm tí mồi và tương lai cho “cò con” cùng với ước mơ đổi đời. Thằng tôi xác tín là sàng khôn mà nó học được đến nhiều hơn từ vệ đường hơn từ phòng hội họp tiện nghi. Trong sự hiện diện với những anh chị em nó đang cần chút lòng thương xót, chủ đề mà thằng tôi diễn giải nơi phòng họp tiện nghi hiện đại, nó gặp được Bác Giêsu lập lại lời dạy năm xưa: “phúc cho ai có lòng thương xót.” Trong lần cuối gặp gỡ bên vệ đường, thằng tôi xin chia tay bằng lời chúc lành và cám ơn vì chính thằng tôi thấy cuộc đời nó cần lắm lòng thương xót. Trong lời chúc lành đó, thằng tôi thầm thĩ xin Bác Giêsu cho nó chút can đảm nghe rõ hơn nữa khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ cái tình của người cha dành nhiều giờ cho nó để nó được sống lại những giây phút được yêu thương chăm sóc, được dạy dỗ. Thằng tôi nhớ những bước đi chậm rãi với cha nó trên hành lang lầu hai vắng lặng nhưng tròn đầy cái tình dành cho nhau. Nó nhớ lại bài học để “Người lớn lên” mà cha nó trao cho nó bằng cách cho nó thấy cách sống mà cha nó đã và đang sống. Trong những giây phút ngắn ngủi này, thỉnh thoảng mặt thằng tôi ướt không phải vì trời Hànội oi nóng làm toát mồ hôi, nhưng vì cái tình quá lớn nó nhận được, nhất là lúc nó nhìn vội mắt cha nó khi nói lời chia tay. Thằng tôi khóc vội và mắt nó nhoà đi, chỉ thấy cái bóng cha nó quay lại, thằng tôi bước chậm xuống cầu thang với tiếng vọng rõ dần về những điều phải sống khi nó nghe tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ những giây phút bên người anh linh mục, người luôn nhắc nó phải sống nghèo. Cả hai tranh thủ từng phút để chia sẻ với nhau những gì được gọi là thổn thức, cho dù đó là văn phòng nơi trại mồ côi có mùi hương hoa Huệ (mái ấm Hoa Huệ), hay trên chiếc honda trên đường dâng lễ. Ngày cả trong những giây phút riêng tư nhất có được cho nhau, thằng tôi cũng được đưa đến nhà trọ để nghe tiếng cười của những người tàn tật từng ngày trên chiếc xe lăn để bán vé số kiếm cơm qua ngày. Thằng tôi được đưa đến vùng biên giới xa xăm để sống thử cái khổ của người Việt kiều không giấy tờ tuỳ thân, không mảnh đất cắm dùi, không có gì ngoài cái sức người để làm thuê như trâu như ngựa trong cái bấp bênh của những người tha phương cầu thực. Thằng tôi nhớ cái nhà của vùng này nhỏ hơn cái bàn làm việc của nó với chiếc mền bông cũ rích được túm bốn góc như cái mái che nắng che mưa. Thằng tôi học được niềm hy vọng nơi người anh linh mục là sẵn lòng cưu mang họ trong tâm trí mình, để bắt đầu sống với họ, lắng nghe họ như lắng nghe tiếng của tình yêu. Từ đó, niềm hy vọng sẽ cho thằng tôi những sáng kiến mà sống cái tình người cho trọn như Bác Giêsu đã trọn tình với nó và những người cù bất cù bơ như thế.

Thằng tôi nhớ…
nhớ buổi họp hành gặp gỡ những người anh em nó đến từ Á, Âu, Phi, Mỹ. Cả tuần bên nhau để tìm hiểu nhau, để chia sẻ nỗi sợ của nhau, để cùng nhau hy vọng và cùng nhau học bài học hợp tác giữa những ngôn ngữ, văn hoá, ưu tiên sống. Thằng tôi nhớ những buổi lễ giờ kinh với hai ba thứ tiếng. Nó nhớ những bữa ăn có cả nước mắm và phôma. Nó nhớ cái tình anh em chọc ghẹo nhau. Nó nhớ ly càfê đậm đen, nhớ ly nước chè xanh mới, nhớ múi mít, lóng mía, nhớ ly bơ dằm, nhớ măng cụt sầu riêng, nhớ thanh long, vải lồng. Nó nhớ tô phở bát bún ban sáng, nhớ bê thui, khoai lùi, nhớ cá kho rau luộc, nhớ quá cái tình anh em một dòng dành cho nhau. Hơn mười ngày sống trong muôn vàn khác biệt ấy, thằng tôi cảm nghiệm thêm cái nét độc đáo rất chung của nhau chính là ngôn ngữ của cái tình mà Giêsu để lại cho trần gian này. Thằng tôi nhận thấy nó cần lắng nghe lắm lắm những tiếng nhỏ to khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lắm viếng thăm gia đình anh em ở xứ càfê bạt ngàn bên mâm cơm chiều vui như hội. Nó nhớ lắm khi thăm các Sr. hưu dưỡng dòng chị nó, dù không nói nhiều nhưng chỉ nhìn nhau là đủ. Nó nhớ lắm khi thăm chủng viện Đàlạt vào những phút cuối của buổi nghỉ trưa. Nó nhớ rong ruổi trên chiếc xe máy mượn để thăm các anh em linh mục. Nó nhớ khi leo cái dốc cao đến rợn người trong mưa để xem trại heo cùng với vất vả của người nhà của anh em nó. Nó nhớ lắm được húp chén canh artisô bên mâm cơm ê a tiếng trẻ. Nó nhớ lời tâm sự của người em vô tình gặp lại bên ly mẵng cầu dằm. Nó nhớ đêm mưa rào thật to trong quán hột vịt lộn đầu đường khi hàn huyên cùng đứa em. Nó nhớ canh sake, mướp sào ở nhà người chị em. Nhớ lắm bàn tay run rẩy của chú thím đưa chén cơm cho nó. Nó nhớ đứng kêu cổng ở nhà cậu sáng sớm sau chuyến xe đêm. Nó nhớ người bạn học lúc còn thò lò mũi xanh giới thiệu thằng con bên thúng lúa. Nó nhớ mẹ nó lủi thủi đi theo nó, nhìn nó từ xa, nghe nó giảng cho mọi người chỉ vì nó không có giờ ở lâu với bà. Nó nhớ lá mơ chiên trứng của mợ, nhớ cái nhăn nheo của khuôn mặt bà, nhớ tật nói nhanh của em họ, nhớ cái cổ đau của cậu. Nhớ ly kem với ông cha bạn khi ngắm Sàigòn đêm. Nhớ chủ quán ốc đêm tắt đèn quán mà nó cùng với mấy thầy vẫn chưa chịu về. Nhớ cái lưng đau của người anh em. Nhớ món cơm Lào bên kênh Nhiêu Lộc. Nhớ mồ hôi rơi lã chã khi đang họp bị cúp điện…Thằng tôi nhớ nhiều lắm và nhớ hết từng người một trong chuyến đi

Chuyến đi làm ký ức của thằng tôi dầy thêm. Không hiểu sao lần này thằng tôi nhớ nhiều lắm và nhớ hết từng người một, nhớ luôn những buồn vui sướng khổ của từng người nó gặp. Có lẽ cái sàng khôn lớn nhất thằng tôi học được trong chuyến đi là tập chơi cho thật đẹp, tập sống cho thật đẹp và để được như thế, trong mọi mối quan hệ, cứ để tình yêu lên tiếng. Và rồi nó nhớ Bác Giêsu nhà mình cũng nói: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Nhớ đến Bác là mang vác đời nhau như Bác mang vác đời nhân loại. Bác Giêsu đã chơi thật đẹp bằng cách mang vác đời người đến bầm dập cả tâm hồn. Bác sống thật đẹp vì đã nghe được tiếng tình và dạy môn đệ ráng mà nghe cho rõ khi tình yêu lên tiếng trong cốt lõi lòng mình. Bác nói hãy nhớ đến Bác là lúc Bác bị nghiền nát, bị bẻ ra, bị trao nộp, bị giết chết. Và cũng chính lúc này, chính lúc cử hành việc Bác chết đi là lúc tình yêu lên tiếng, lúc mà tên gọi là lời chúc tụng tạ ơn. Tình yêu không thể chết và vì vậy, lúc nhớ Bác chết cũng là lúc vui mừng với sự Phục sinh của Bác qua việc ăn uống con người của Bác để mà được ở trong Bác và ở trong nhau.

Là linh mục, thằng tôi dâng lễ mỗi ngày. Mỗi khi thấy Bác Giêsu trong đĩa thánh, thằng tôi xin Bác cho nó ở đó với Bác. Bác đồng ý ngay và còn bảo là mang vác đời của những người bước qua đời nó vào đĩa thánh. Thế là đĩa thánh cứ rộng ra, cứ nặng dần, và tay nó run run không nâng lên nổi vì sức nặng của khó khăn nhọc nhằn. Thằng tôi cũng xin Bác cho nó tan chảy ra trong chén thánh. Bác đồng ý ngay và còn khuyên nhủ là nên đụng chạm cho hết những buồn vui sướng khổ của mọi kiếp người. Thế là chén thánh cứ tuôn tràn những ân tình lênh láng ơn cứu độ của Bác , và tay thằng tôi run rẩy chỉ biết phân phát cho tròn, cho hết, cho đến tận cùng.

“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.” Cái sàng khôn lần này là bài học nhớ lại. Ráng mà học để nhớ hết, nhớ trọn những gì xảy ra khi tình yêu lên tiếng. Và theo Giêsu nhớ là làm. Ráng mà làm cho hết, cho trọn những gì cần phải làm khi tình yêu-khi Giêsu lên tiếng.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cõi Trần Cõi Thiêng

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời

Những công việc dồn dập ngập đầu với những hạn chót phải xong trong những ngày cuối tháng Tư đầu tháng Năm dường như làm thời gian trôi nhanh hơn bình thường. Trong những ngày này lại có quá nhiều những kỷ niệm của những chuyện xảy trong quá khứ, rồi những cử hành trong từng ngày sống, và cùng với chuẩn bị những công việc liên quan tương lai. Giữa những bề bộn đó, thằng tôi dọn bài giảng cho lễ “thăng thiên” và bỗng nhiên nó bị lôi cuốn vào và bị giằng co với tư tưởng “cõi trần cõi thiêng” – đâu là cõi thật? đâu là Quê Nhà?

Dù thuộc về dân tộc nào hay văn hoá nào, ai ai cũng đối diện với cái chết. Dù luôn là một bí ẩn đầy tính nhiệm mầu, cái chết là điều gì đó rất chắc chắn. Ai cũng biết là bất cứ ai đều không thể mang bất cứ điều gì khi họ chết. Phải chăng điều này làm cho con người quan niệm cõi trần này là tạm bợ và thằng tôi tin là không chỉ người Việt và văn hoá Việt mới có quan niệm này.

Có tạm bợ thật không khi sau mỗi ngày làm việc, thằng tôi cất bước theo những lối mòn ngắm nhìn mùa xuân với muôn sắc mầu của đất trời cỏ cây, nghe những tiếng hót líu lo của chim chóc đủ loại gọi nhau trao tình và tiếng suối róc rách âm thầm làm nền cho bản giao hưởng của thiên nhiên, hít ngửi những hương thơm thoang thoảng của đất, của gỗ, của hoa lá cỏ cây và cái mùi đặc trưng của khói xe trên đường phố hay những mùi vị hấp dẫn từ lò nướng nơi một góc của công viên đông người. Có tạm bợ thật không khi làn da đụng vào mặt hồ phẳng lặng làm cái chân nhón lên vì lạnh hay đôi tay chạm phải cái gì đó mềm mềm nhớt nhớt ở vườn rau bé tẹo sau nhà và ngón tay giữ cái gai nhọn ở đốt giữa khi cắt hoa ở bờ rào để bàn ăn thêm đẹp. Có tạm bợ thật không khi nuốt xuống vị ngọt của chà là, khi nhâm nhi tách trà xanh, và khi vội húp chén canh rau để khỏi nguội…

Có tạm bợ thật không khi phải lòng ai đó để rồi cái khoái rần rần lên trong tim trong thịt nhưng lại nghĩ suy là ở tạm như ca từ của nhạc sĩ họ Trịnh: “ta nay ở trọ trần gian…” hoặc cầm tay trong nước mắt nghe giọng nghẹn ngào của người bạn an ủi ngược lại mình khi thăm mẹ nó qua đời: “sống gửi…thác về.” Có tạm bợ thật không khi nhớ lại mắt Phật lim dim, môi mỉm cười nhẹ, an toạ thư thái nơi toà sen và chỉ dạy chúng sinh thoát khỏi kiếp trần như bể khổ vì những nhục dục sân si. Có tạm bợ thật không khi nhớ lời cha giáo dạy triết Đông bảo rằng “sắc sắc không không” nhưng có ai quất roi mây vào mông một cái thật mạnh và hỏi thử cái “không không sắc sắc” ấy có đùng đùng nhảy đổng lên vì đau. Có tạm bợ thật không khi sung sướng vô cùng, dù chỉ là trong ý nghĩ, vì cái thằng mình ghét cay ghét đắng nó bị đụng xe liệt người nằm một chỗ. Có tạm bợ thật không khi nhìn ai đó uất hận đến chết đòi lại mảnh đất từ đường như máu mủ của cha ông để lại. Có tạm bợ thật không khi lòng quặn lại vì ngư dân quê mình bị tàu lạ đâm chìm. Có tạm bợ thật không khi ý thức hệ giam tù lương tâm đến ngay cả nấm mồ cũng thành nạn nhân.

Cái hòm quá nhỏ để chứa tất tần tật mọi sự thuộc về cái cõi trần này, cái xác thân này, cái lòng này, và những tư tưởng kín đáo này. Có lẽ vì thế tất tần tật chỉ là tạm bợ chăng? Nhưng thằng tôi đang sống ngày hôm nay là ngày của Mẹ theo văn hoá, và là ngày ra trường của nơi nó từng làm việc. Cái tình mẹ và cái bằng cấp cô cậu đang cầm trong tay với bao vất vả của mẹ cha cũng chỉ là tạm bợ thôi sao? Lại thêm nữa, hôm nay là ngày mừng Chúa lên Trời theo lịch Giáo Hội. Chúa Giêsu phục sinh lên trời để từ bỏ cõi trần này. Thế thì lại càng có lý do để nghĩ cõi trần này làm tạm bợ.

Giáo hội cử hành ngày Giêsu bỏ cõi trần này để lên cõi thiêng. Không một ai dám khẳng định  biết cõi thiêng đó ở đâu và có những gì hay cuộc sống ra sao ở cõi thiêng ấy. Nhưng Giáo Hội biết rất rõ là Thiên Chúa vô hình đã bước vào cõi trần hữu hình tạm bợ này. Thiên Chúa cũng đã bỏ cõi thiêng ấy mà sống ở cõi tạm này hẳn hoi. Ai ai cũng biết giấy thẻ căn cước của Bác Giêsu và đúng là không ai phủ nhận Bác Giêsu là người. Vậy khi mừng Bác lên cõi thiêng, Giáo hội khẳng định Bác từ cõi thiêng mà đến. Bác trở về cõi thiêng nghĩa là Bác đang sống vì có sống thì mới trở vể được. Vậy mong thay Bác nói cho nghe một chút kinh nghiệm của cõi thiêng ấy.

Bác nói rằng cõi thiêng ấy ở cõi trần này chứ chẳng phải lên lên xuống xuống gì cả. Có thật không khi Bác bước vào cõi trần tạm bợ này để tuyên bố nó là cõi thiêng. Bác không làm thần lung linh lộng lẫy nhưng làm người để bước vào cõi tạm với cái hơi thở của con người, bước vào cái lõi của con người, nơi tâm con người. Trong ngày này, Giáo hội đọc cho con cái mình và thế giới này biết câu hỏi của cõi thiêng: “này người…sao còn đứng đó mà ngước lên (trời)?”

Có thật không khi Bác Giêsu cầm lấy cái thẻ căn cước của cõi trần để bị muôn vàn giới hạn của nó vận vào. Bác ở Dothái, làm thợ mộc nghèo, giảng dạy cái phúc là cái nghèo nên chỉ có lèo tèo vài đệ tử, chết đớn đau quằn quại như tên tử tù nghèo nhục nhã chỉ có miếng vải che lấy cái  khu và để lộ toàn thân bầm dập tả tơi vì bị đánh, và khi chết rồi thì cái kiếp nghèo cũng chằng rời,  nghèo đến cái mộ cũng phải đi mượn.

Bây giờ, Bác lên cõi thiêng và có thật không là Bác phá tan đi cái lời nguyền giới hạn trong cái căn cước đó. Bác lên cõi thiêng để ở trong mọi người khắp chốn khắp nơi cho dù họ giết Bác ngay trong lương tâm họ. Bác lên cõi thiêng để cái nghề thợ mộc bây giờ là sự hiện diện trong tất cả mọi vất vả lam lũ để giọt mồ hôi của muôn thế hệ cõi trần này hoà vào mồ hôi của Bác. Có thật không bài học nghèo của Bác ngày xưa bây giờ là sự dửng dưng đứng ngoài cuộc để nhìn nỗi đau của người người khắp chốn.

Có thật không khi cõi thiêng là nơi không cần áo quần che thân để cái sẹo lù lù ra đấy với lời mời của Bác là thọc tay vào đây: vào tận tâm căn xương cốt của linh hồn ai đó bị lạm dụng tình dục. Ở cõi thiêng, Bác mời đút ngón tay vào đây: vào cái lỗ đinh của bao người sống như thân tàn ma dại bởi những cơn nghiện ngập. Có thật không ở cõi thiêng khi Bác cởi mão gai ra là để cho ai đó thử cái gai nhọn của lợi ích nhóm đang làm tan nát bao kiếp người trong tiếng đùa cợt khinh khi của mưu mô dự án với muôn vàn tính toán ma mãnh để mảnh giấy đôla rơi vào cái túi không đáy của lòng tham.

Có thật không khi ở cõi thiêng, toàn bộ con người của Bác được bẻ ra, đổ ra để trở thành một phần máu thịt và sự sống như “hoa màu ruộng đất và rượu bởi cây nho” được nhào nặn bằng “công lao con người”nơi cõi tạm này để từ đó, khi mọi nhân sinh cúi đầu, khoanh tay há mồm đón lấy trong cung kính cũng sẽ bị bẻ ra, bị đổ ra cho anh chị em nó sống đẹp thêm một chút, sống vui hơn một chút, và sống người hơn một chút trong tử tế của cái tình đồng bào, trong thân ái của hoà giải thẳm sâu, và trong công bằng bác ái của tự do và sự thật.

Có thật không khi ở cõi thiêng với những hoan hỉ cực lạc tột cùng chưa ai biết được, Bác mời ai đó ở vị trí cha chú thiên hạ nói thật lòng lời chữa lành để con dân mình đứng dậy làm người cõi thiêng như Bác thốt ra rằng: “ngay hôm nay, thằng ăn cướp này, con đĩ bán thân này, thằng đểu cáng xỏ lá này, con Sen mọi rợ này, …ở với Bác” trên cõi thiêng.

Cái cõi trần với suy nghĩ “có tạm bợ không” đan vào cái cõi thiêng với nghĩ suy “có thật không” như ngọn đèn cho thằng tôi mò mẫm từng bước đi trong ngày. Là tu sĩ theo Bác Giêsu, thằng tôi vẫn mãi mày mò con đường của Bác để mà tu cho đắc đạo. Bài học thật rõ ràng ra đó rồi con gì: cõi trần này “tạm bợ” đấy nhưng là cõi thiêng để sống. Cõi thiêng này “có thật không” ấy là những gì cụ thể tạm bợ của cõi trần.

Điều thằng tôi thèm thuồng và ước mong mà nó chưa làm được là có một tự do như Bác Giêsu. Bác có tự do trọn vẹn và mênh mang để bước vào cõi trần tạm bợ cũng như bước lên cõi thiêng thật của cuộc sống. Bác sống như “kẻ không có chỗ gối đầu” và Bác sống với ý thức “nước tôi không thuộc về thế gian này.” Bác Giêsu kinh nghiệm rằng cuộc sống ở cõi trần này không hoàn hảo và có lẽ sẽ mãi mãi không hoàn hảo; nhưng Bác dạy cho đệ tử mình hy vọng và không được phép sống trong tuyệt vọng. Bác biết là cõi trần này vẫn còn ngập tràn gian dối, tư lợi, ma mãnh, vùi dập nhau, chửa rủa nhau, lợi dụng nhau, đâm chém nhau, làm đau đớn nhau; và chính vì những thê thảm khốn nạn ấy mà Bác tự do bước vào. Bác bước vào đề làm cho chúng thành cõi thiêng và rồi Bác thong thả, nhẹ nhàng, tự do ra đi khi chúng vẫn ngổn ngang, bầy hày và đôi khi còn hỗn độn hơn trước lúc Bác bước vào. Bác dạy phải hy vọng vì Bác hy vọng vào những chàng trai, những cô gái sẽ có một khoảng khắc trở nên tự do bước vào những nơi “không có chỗ gối đầu” để sống, để yêu, và để nói được  như Bác là “nước tôi không thuộc về thế gian này.” Kinh nghiệm làm người của Bác đã biến đổi  “tạm bợ” của cõi trần này thành cái gì đó rất thật của “cõi thiêng”

Bác Giêsu sống và kinh nghiệm rằng cuộc sống ở cõi thiêng ấy luôn tốt đẹp và cần được loan truyền cho đến tận cùng mọi nơi ở cõi trần này. Bác sống kinh nghiệm cõi thiêng ngay ở đây để những chàng trai và những cô gái sẽ không mãi “ngẩng mặt nhìn trời”; nhưng phải tự do mà đặt chân vào những nơi nắng bụi mưa bùn, tự do để bàn tay mình thành bàn tay của con Sen nơi trại HIV, thành bàn tay của bà mẹ nơi trại mồ côi và viện dưỡng lão để mà tắm rửa cái thân thể vi trùng không ai muốn rớ vào, để chùi cái bàn hậu hôi thối không ai muốn cúi xuống. Bác Giêsu hứa là sẽ củng cố bằng những phép lạ kèm theo chính là sự hiện diện của Bác để mọi nam phụ lão ấu tự do biến tâm hồn chúng thành trường của yêu thương và đủ lớn để tất tật mọi người đều có một chỗ để chui ra chui vào trong trái tim bé tẹo tèo teo của thân xác cõi trần. Bác đã mang vác dân tộc đớn đau của Bác từ cõi trần vào cõi thiêng bằng những đồng hành cảm thông để dạy cho những nam thanh nữ tú cũng biết mang vác vào cái đớn đau của họ những câu chuyện có tên Thủ Thiêm, có tên Formosa, có tên Hoàng Sa, có tên Thiên An Tu Viện, có tên Dòng Tu Phao Lô, có tên Tam Toà, có tên Mẹ Nấm, có tên Việt Khang, có tên Người Buôn Gió, có tên Trần Huỳnh Duy Thức, có tên Trương Duy Nhất, có tên Lưu Văn Vịnh, có tên Nguyễn Văn Đài… Bác tận tâm truyền cái lý của cõi thiêng cho mọi thành phần để họ tìm thấy cái khôn ngoan mà sống cho tử tế, cho ra người với câu thần chú: “ai trong anh em vô tội, hãy là người ném đá trước đi”

Nhìn vào tờ giấy trắng chỉ có vài cái gạch đầu dòng để nói về việc Bác Giêsu lên trời, thằng tôi bỗng thấy mọi sự trở nên vụn vặt và nhỏ nhoi vô cùng trước sự tự do của Bác Giêsu; vì có lẽ Bác Giêsu chẳng lên đâu cả. Bác cứ tự do bước vào cõi trần rồi lại bước qua cõi thiêng. Bác bước qua bước lại trong từng ngày sống của từng cuộc đời, từng thân phận của từng dân tộc. Bác lên tiếng mời gọi và hy vọng nghe câu trả lời mỗi lần cất bước; và có lẽ cõi trần hay cõi thiêng không còn quan trọng nữa với Bác nữa. Có lẽ Bác muốn thằng tôi này hãy tập nhìn mọi sự không là gì để cứ tiếp tục bước đi trong hy vọng và tự do. Bước đi để thấy mọi sự, để tự do ôm ấp mọi sự và cũng tự do buông bỏ mọi sự. Chẳng biết là phải giảng gì về cuộc lên đường của Bác Giêsu, nhưng chắc chắn sẽ nói về tự do của Bác, về cách Bác bước vào cõi trần và cách Bác bước vào cõi thiêng. Nói về Bác cũng là nói về kinh nghiệm của thằng tôi về Bác. Lần này, một kinh nghiệm giằng co giữa cõi trần và cõi thiêng là điều gì đó phải nói ra để xin mọi người thương mà cầu nguyện, mà giúp cho nó cất những bước tự do trong đời. Bước đi để mà thành con người tự do. Tự do để không ai thấy mình, tự do để bay cao như mây, tự do để trôi vèo như dòng nước, tự do để tàn úa như cánh hoa, tự do để đọng lại nơi “kín ẩn” nơi mà sự giằng co trở thành ân sủng, nơi mà từng bước của thằng tôi trên cõi trần này lại là từng bước trên mây ngàn của cõi thiêng.

Có lẽ cái giằng co lúc này là sự tự do nhất mà nó đang nếm được. Thằng tôi cám ơn Bác Giêsu mà nó chuẩn bị lập lại lời của Bác ngày xưa, để nó có thể cầm lấy Bác, nhai chầm chậm Thân Thể Bác, uống từng ngụm Dòng Máu Bác để Bác biến đi và thành năng lượng cho nó sống. Cái nguồn Năng Lượng của Cõi Thiêng ở ngay Cõi Trần giúp nó tự do hoàn toàn và trở nên vô hình như Bác trong những gì rất cụ thể: bệnh tật, công việc, đớn đau, trách nhiệm, tương quan, vân vân, trong cõi trần này.

Cõi trần hay cõi thiêng có lẽ chẳng là nơi nào cả; nhưng nó ở nơi một con người hữu hình và vô hình có tên Giêsu với xác thân tạm bợ và sự thật phục sinh vinh quang.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?