Đối Diện

Bước vào thật sâu trong cõi lòng mình, ngồi thật lâu trong thinh lặng, nghe thật kỹ những tiếng thì thầm, có lẽ ai cũng biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ biết hết được chính mình, hoặc biết hết về những con người đi ngang qua đời mình. Có đúng không khi nói rằng: mọi người đều có một kinh nghiệm giống nhau nơi thẳm sâu đó. Một kinh nghiệm về một ao ước thẳm sâu được biết rõ mình là ai và ai ai cũng nhận ra có Ai Đó lớn hơn chính bản thân mình và cũng lớn hơn cả những gì mình có thể nghĩ ra.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể bước ra khỏi thời gian một cách dễ dàng để sống (lại) một câu chuyện cuộc đời thật riêng và đủ sắc mầu. Trong câu chuyện rất riêng ấy, mọi khía cạnh về thể xác, về tâm hồn, về trí thức, và về tình cảm lần lượt hiện ra thật rõ như bóng nắng được mặt trời chiếu trên đất trong một ngày nắng đẹp. Khi câu chuyện rất riêng ấy được sống cho thật đầy, cho thật tới, cho thật sâu, mọi sự dù rõ rằng đến mấy cũng không thể diễn tả được. Mọi ý tưởng và ngôn ngữ trở nên thật giới hạn vì dù có diễn tả kiểu nào cũng thấy nó thiếu thiếu làm sao ấy. Nhưng chính trong sự giới hạn đó, Ai Đó lại rất thật và rất gần.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể nhắm mắt mà vẫn nhìn rõ từng con người, từng sự vật, từng mối liên hệ, và từng ngóc ngách của tâm hồn nó. Mọi sự trở nên đẹp đến lạ lùng và có sức hút mãnh liệt không ai có thể cưỡng lại được như chú ong sẵn sàng bay đến cả ngàn dặm để được chạm đến cái nhụy hoa đầy phấn và mật. Khi đôi mắt nhắm ấy dám vươn tới những đối tượng thật xa, thật lạ, thật bất lực, mọi sự dù có là gì đi nữa cũng trở nên đẹp đến ngất ngây. Trong cái ngất ngây nơi cõi thẳm sâu ấy, đôi mắt trở nên bàng bạc mênh mông đến lạ. Đôi mắt nhắm bỗng được biến đổi thành sự cởi mở linh thiêng. Dù bay thật nhanh và thật xa, đôi mắt nhắm được Ai Đó đồng hành trong lung linh và làm cho thoả mãn trong những tiếp xúc cụ thể với từng tạo vật nhỏ bé li ti như cái ôm thật chặt và thật lâu của hai người tình.

Nơi thẳm sâu đó, con người có thể đụng chạm đến những hiện hữu dù tay vẫn cuộn tròn trước lồng ngực. Mọi hiện hữu khác trở nên như con dấu khắc ghi lại những niềm hạnh phúc tròn đầy của sự tự do trọn vẹn, nhưng cũng không quên ghi lại những trầy xước của tâm hồn mà tê tái tạo nên. Khi để cho buồn vui sướng khổ đan xen với lòng trắc ẩn theo năm tháng, con người sẽ vững vàng hơn với độ dầy của can đảm. Khi con người không để cho sự dửng dưng cột chặt vào những ích kỷ vụ lợi, nó bỗng đối diện nhiều hơn trong trách nhiệm để những hiện hữu khác, dù khác biệt tột cùng, vẫn sống vui sống khoẻ. Trong những đụng chạm đó, sẽ không có sự tồn tại của những chủ mưu hất hủi hay những bách hại cố tình; bởi vì trong mọi quan hệ liên vị, Ai Đó không hề hao mòn, nhưng vẫn lớn dần lên như một lớp keo níu chân con người trước những chạy trốn đôi khi cả chính bản ngã mình để tìm sự dễ dãi.

Nơi thẳm sâu đó, con người hít vào thở ra dòng khí của vũ trụ trời đất rất trong lành và dịu êm nhưng cũng ngột ngạt và nặng nề của muôn vàn lo lắng. Bước ra bước vào nơi lồng ngực mình, ai ai cũng ngại ngùng giữ lại những thổn thức dồn nén như tiếng kẽo kẹt của sàn gỗ lỏng đinh khi đôi chân nặng nề rón rén từng bước giữa đêm khuya vắng. Khi hơi thở ấy quyết định nuốt xuống những cô đơn tột cùng của chính mình để tiếp tục những bổn phận nhàm chán hàng ngày, con người bỗng thở ra những hương thơm của kiên nhẫn và lòng sẻ chia. Lúc ấy, cái hít thở nhẹ nhàng bỗng nâng con người lên cao hơn những giằng xé nội tâm giữa muôn con người, dẫn con người vào đúng vị trí của mình trong thứ trật tự lộn xộn giữa muôn muôn vật đang tìm một chỗ đứng đúng, và giúp con người buông bỏ những áp lực giả tạo của cái hào nhoáng bên ngoài giữa những tiêu chuẩn rẻ tiền. Trong hơi thở chầm chậm đó, Ai Đó bước vào bước ra trong lồng ngực như nhịp gõ nhẹ để bước chân của hơi thở không trật nhịp theo điệu nhảy.

Nơi thẳm sâu đó, con người lắng nghe được tiếng thì thầm vang vọng lại từ tận cùng của không gian. Vũ trụ vạn vật trở nên nhỏ bé đến không ngờ khi ai ai cũng đặt tai mình bên tiếng khóc của những thân phận bất công đang quằn quại để sống còn trong tiếng búa rìu chát chúa của những dối lừa và quyền lực. Khi nghe được tiếng âm ỉ nơi cõi lòng của muôn người muôn vật như thế, con người trở nên bất tử khi dừng lại cuộc sống mình để sống cùng-sống với những hiện hữu khác. Khi tiếng thì thầm vang vọng lại như những nhịp cầu nối những nỗi đau, con người cảm nhận sức mạnh của hiệp nhất mà chúng có thể bẻ gãy được những kìm kẹp của tiếng đời. Trong khoảng khắc ấy, con người vẫn nghe được những trầm bổng của bản tình ca hiệp thông mà Ai Đó đang hát nhẹ nhàng say đắm giữa những náo động ồn ào chói tai của dòng đời nổi trôi.

Cái cõi lòng thật lạ làm sao. Nó xoá đi không gian thời gian của thân phận con người. Nơi con người được khao khát thông hiểu mọi sự về chính mình. Nơi cõi lòng này, có một sự đối diện bắt buộc để nhận ra chính mình là ai. Nơi cõi lòng này, con người được nếm thử thiên đàng và hỏa ngục như thế nào. Có lẽ lắm người thích và cũng không ít người muốn quên cõi lòng này vì nó làm cho cuộc sống họ đảo lộn nhiều quá và thằng tôi mang cả trong hiện hữu nó hai khuynh hướng ngược nhau này.

Thằng tôi gọi Ai Đó là Thiên Chúa của nó. Nó bước vào cõi lòng nó và luôn khao khát được hiện diện, đối diện với Chúa của nó ở đó. Thằng tôi bước vào sự hiện diện đó và ao ước lớn nhất của nó là được bước theo thật gần Thiên Chúa của nó. Nhưng cũng chính nơi đây, nó nhận ra cả tháng vừa qua, con người nó mệt mỏi với những công việc và bệnh tật, cô đơn nhiều với những hiểu lầm và thị phi, chán nản nhiều với những khó khăn dồn dập. Thằng tôi biết là trong sự đối diện này, nó được lớn lên và can đảm hơn để sống chậm lại trước những mệt mỏi, nhẹ nhàng buông bỏ hơn trước những cô đơn của đời tu, phó thác hơn với những dự định cho công việc và khiêm nhường hơn nữa trong từng ngày sống.

Thằng tôi bước ra khỏi thời gian thật nhiều để sống câu chuyện cuộc đời nó; thế nhưng Thiên Chúa trả nó về lại trong thời gian để nó gần hơn với những giới hạn của con người nó trong tâm tư tình cảm, và gần hơn cả những bài học mà nó cần phải học. Bước ra thời gian để gặp Thiên Chúa và phải bước lại trong thời gian để thật gần Ngài. Và khi gặp Ngài và gần Ngài, thằng tôi chỉ biết lặng im để sự đối diện rõ dần hơn trong từng phút sống.

Thằng tôi muốn nhắm mắt lại thật nhiều để nhìn rõ mọi sự trong cái lung linh và thoả mãn; thế nhưng Thiên Chúa mời nó mở mắt ra để mà ngắm nhìn thật xa, thật lạ dù có nhạt nhòa bởi những dòng nước mắt thế trần. Nhắm mắt lại để bước đi trong vẻ đẹp ngất ngây của vạn vật luôn là kinh nghiệm đáng giữ và phải mở mắt ra để nhận ra Chúa của nó cũng tiều tụy, hôi hám, nghèo khổ và xa lạ nơi những người thật nghèo mà ngài chọn để gửi trao hình ảnh Ngài. Mở mắt ra để mà ôm lấy Chúa của nó vào lòng nơi những người bị cuốn trôi sau cơn lũ thật xa xăm nơi đất Lào, đất Bắc, nơi những nạn nhân của bà hoả thật xa tận trời Âu. Mở mắt ra để mà khóc với những người thân yêu của những nạn nhân trong tích tắc của tai nạn giao thông và nạn nhận khóc dở chết dở của chủ mưu hàng giả vacxin, hay trong tiếng nghẹn ngào của nhưng người ngó nhà trôi xa và chìm dần theo con nước. Thằng tôi nhắm mắt để nhìn vạn vật và phải học mở mắt ra mà nhìn Chúa của nó ngay bên cạnh mình,

Trong cõi lòng sâu thẳm, thằng tôi đụng chạm nhiều đến các mối liên hệ từ gia đình đến bạn bè, từ anh em bạn tu đến những người nó phục vụ, từ nhân viên làm việc đến những người thong thả rong chơi. Thằng tôi ở giữa muôn người, đụng chạm vào muôn người nhưng cái cô đơn lại cứ lớn dần lên vì vẫn còn mỏi mong một cuộc gọi, vẫn nhớ chờ một lá thư, vẫn ước mong một lần gặp mặt… Bước vào cõi lòng để gặp mọi người và đụng chạm đến tất cả; thế nhưng Thiên Chúa đặt nó vào lại dòng đời với những giới hạn của đời tu và của phận người để nó đụng gặp gỡ và đụng chạm vào nỗi cô đơn cần phải có để học bài học tự do. Sao dễ thế khi nói trong cõi lòng là buông bỏ để mọi sự tự do dù có yêu đến mấy; nhưng sao khó quá khi đối diện với nỗi cô đơn của ngày sống để rồi muốn nắm giữ cái tình , muốn vơ vào cho mình cái tiền, và muốn nâng cao lên cái danh vọng bên ngoài. Thằng tôi đụng chạm vào cái sâu thẳm bên trong nhẹ nhàng lắm. Tốt thật đấy, nhưng phải học sống cùng nỗi cô đơn và khô khan của cuộc đời để dẹp cuộc đời dễ dãi sang một bên, để tu cho kỹ mà buông bỏ hết những gì làm nó không thể đụng chạm được Thiên Chúa.

Thằng tôi muốn hít thở và bay bổng trong hoà bình và công lý. Nó muốn nghe được bước nhảy của bước chân làm người gần người hơn; thế nhưng Thiên Chúa mời nó bước vào trong ngột ngạt của bất công và bước đi cùng với những con người có xương có thịt. Sao dễ quá khi ngồi trong phòng, đọc những hàng chữ cỏn con rồi lên giọng với bức tường trước mặt; nhưng sao khó quá khi gõ cánh cửa công để tìm công lý cho người khác bằng tay của mình và hít thở với họ cái không khí của dùi cùi bạo lực. Sao dễ quá khi từ chối một cuộc gọi đến vì điện thoại thông minh cho biết người gọi là ai; nhưng sao khó quá để gặp và để nghe đích thực tiếng ha ha, hu hu ở khu ổ chuột. Sao dễ quá khi xuống nhà bếp lấy thức ăn và thưởng thức lon bia có sẵn trong tủ lạnh; nhưng sao khó quá để đút miếng cơm cho người thân nơi giường bệnh và lắng nghe tiếng khò khè qua đôi môi mấp máy của người anh em bán thân bất toại đang ngồi xe lăn. Cái bài học sống cùng-sống với mà Thiên Chúa dạy nó qua từng hơi thở trong cõi lòng có bài tập ở ngay cuộc đời này. Để khỏi phải rớt kỳ thi, thằng tôi biết mình phải học nhiều lắm để mà sống cái tình liên đới và hiệp thông cho đúng nghĩa.

Thằng tôi ngồi thẫn thờ không biết ở trong cõi lòng bao lâu và không nhớ đã nói gì với lần đối diện này. Nó gục đầu vào bàn tay và nghe Thiên Chúa ngỏ lời với nó trước về những sự thật cuộc đời nó, về công việc nó làm, về các mối quan hệ của nó, về gia đình nó, về nỗi sợ của nó, về mọi sự của nó… là Ngài biết những lần nó vấp ngã, Ngài biết những cố gắng của nó. Ngài biết những lúc nó biết là nó đang làm sai điều gì đó. Ngài biết những xấu hổ ngại ngùng khi nó gắng bước đến trước sự hiện diện của Ngài để thú xưng lỗi tội. Trong bóng tối, chỉ có nó ngồi đối diện với thánh giá và nhận ra câu trả lời trong thinh lặng. Câu trả lời về cuộc đời nó được Giêsu-Người đối diện trả lời trong thinh lặng vô cùng của thập giá. Thằng tôi nhận ra và tập bước ra khỏi dòng người đi tìm cái đẹp ở đâu đó. Nó nhận ra rằng cái đẹp không là một sự vật sở hữu được; nhưng cái đẹp là một cách nhìn muôn người muôn vật, và cũng là lối sống. Khi nó sống cho tới, sống cho đầy, nó biến tan dần và trở nên vô hình. Khi nó sống cho hết, sống cho trọn, nó biến thành một phần của cái Đẹp tuyệt đối bởi vì cái Đẹp tuyệt đối ấy lớn hơn nó nhiều, lớn hơn cả những gì nó có thể nghĩ ra; và cũng chính cái Đẹp tuyệt đối ấy cho nó cái kinh nghiệm vượt lên những giới hạn để sống một chút ngoài không gian và thời gian.

(Ngày cuối cùng của tháng Bẩy, 2018)
Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nghe Gì khi Tình Yêu Lên Tiếng?

(Mến gửi các cha, thầy cô, bạn bè, ân nhân, thân nhân, và anh chị em, những người thằng tôi được gặp và làm việc  trong chuyến đi ngắn ngủi.)

Cả tháng Sáu, thằng tôi ra khỏi cái phòng nhỏ của nó, rời cái bàn làm việc hằng ngày, bỏ lại cái giường thoải mái để đi một nửa vòng trái đất, đến một nơi nó gọi là nhà, là quê hương, là hàng xóm, là cộng đoàn. Nó đến để gặp gỡ cha chú, thầy cô, bạn bè và anh chị em, hiện diện với người nghèo và thiếu may mắn, làm vài việc cá nhân, làm vài việc chung và nhất là để học hỏi thêm như cha ông nó dạy: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”

Ngày về, cái túi nhỏ thằng tôi hay dùng trở nên chật trội. Cái balô vẫn chứa đôi ba cuốn sách, vài vật dụng cá nhân và chiếc áo dài trắng, nhìn nó với vẻ lạ lẫm hơn khi nó cố nhét thêm vài ba thứ gọi là kỷ niệm. Thằng tôi nói lời chia tay với anh em, leo lên chiếc honda khi mặt trời chưa đủ nóng, và nó bắt đầu nhớ lại…

Thằng tôi nhớ…
nhớ cận kề ngày ra đi, nó còn chạy túi bụi để tổ chức lễ mừng các cha kỷ niệm thụ phong linh muc từ 60 năm đến 74 năm. Chủ tế giữa những cha già với chiếc xe lăn hay với cái gậy, nó cười nói vui vẻ vì mọi người hạnh phúc với muôn vàn lời chúc mừng. Thật vui và hạnh phúc, nhưng có lẽ không phải là sàng khôn nó học. Thằng tôi trong lòng thấy nhói đau vì nó thấy mình chưa yêu đủ, chưa dám sống dấn thân đủ, và chưa trung thành đủ với ơn gọi. Nó thấy qua những thân hình tiều tuỵ và bệnh tật là những nụ cười nhẹ nhàng và ánh mắt đượm tình. Đây là cái sàng khôn cần học. Học để trung thành với tình yêu và để cho tình yêu chăm sóc mình.

Ngoài hình ảnh của các linh mục, thằng tôi nhớ bao người đã rất quảng đại giúp đỡ nó trong việc tổ chức lễ, nhất là khâu ẩm thực. Thời gian ngồi chờ lên máy bay không đủ để nó điểm lại từng khuôn mặt đã giúp đỡ nó dù âm thầm hay công khai. Thằng tôi khóc thật hạnh phúc vì cảm nghiệm được những người này đã sống thật khôn ngoan bằng cách để tình yêu lên tiếng trong cuộc đời họ; nhưng nước mắt đó cũng xấu hổ làm sao ấy vì thằng tôi thấy mình chưa học được bài học quảng đại dù tình yêu đã nhiều lần lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lúc chân nó chạm đất sau chuyến bay dài, nó được sống tình cảm ấm nồng qua ánh mắt trao nhau, những cử chỉ giúp đỡ nhẹ nhàng và nhất là những sự sẵn lòng của người anh/em đã uyển chuyển theo thời gian hạn hẹp của nó để giúp nó thay đổi những giấy tờ cần thiết. Sự giúp đỡ này đã làm cái lòng nó bớt lo lắng một chút khi nó đi đến cửa quan, nơi mà nó cùng gia đình nó đã từ lâu lắm rồi, có những ngăn cách theo bản tính tự nhiên của thời cuộc. Nó nhận ra món quà nó nhận được đến từ trời cao, nơi niềm tin trở thành chiếc cầu kết nối những nhịp tình để luôn có những mảnh đời toả hương lòng dù đang sống trong cuộc đời vốn dĩ để tâm lo chuyện cơm áo gạo tiền. Thằng tôi sung sướng lắm khi thực sự được yêu thương và được lo lắng như thế, nhưng cùng lúc đó, nó thấy mình thật tệ vì nhiều lần không dám đi bước trước để gỡ bỏ cái nút thắt thời cuộc, ít là trong lòng nó. Thằng tôi cúi mặt viết bài học khôn vào tim mình để cuộc sống nó không phải luôn hí hửng với hương lòng nhận được từ ai đó, nhưng là tập sống cho ra sống, để cái lòng nó có tí hương mà toả bằng cách lắng nghe thật kỹ khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lắm tuổi học trò của hơn 30 năm về trước. Rất lâu rồi, thằng tôi mới có được những khoẳng khắc đượm tình thật vui bên thầy cô và bạn bè của thời trung học. Tuy cuộc sống dắt mỗi thành viên của lớp A2 mỗi người trên một con đường khác nhau, nhưng thằng tôi vẫn luôn cảm thấy có gì đó rất thương mến và vẫn luôn là một chút linh thiêng để nhớ để thương. Lần gặp nhau này, những kỷ niệm ngày xưa ùa về và tất cả những mắc cỡ ngại ngùng của ngày xưa nhường chỗ cho những chia sẻ chân thành. Cuộc sống vốn vẫn khó khăn và ai ai cũng bước đi với những nỗi đau rất riêng của từng người; nhưng A2 vẫn mãi là nơi để những bước chân của những nam thanh nữ tú A2 thời xa xưa ấy dừng lại, ngồi lại với nhau để mà cười mà khóc với nhau. Thằng tôi về lần này được cười được khóc thật nhiều, được ăn uống ngon, được đi lại những con đường xưa, được dầm mưa Đàlạt, được nói những gì không dám nói, được ngồi quán nhỏ ngắm thông Đàlạt, được nghe những tiếng lòng, được hỏi chuyện riêng tư, được nhắc đến những gì là kỷ niệm, được sống lại cái hồi hộp của thời đi học. Cái tình A2 thật đẹp đã, đang và sẽ mãi làm cho cuộc sống thằng tôi thêm phong phú. Đêm về, không ngủ được vì hạnh phúc, nhưng có lẽ thằng tôi thao thức nhiều hơn vì nó thiếu nhiều những khoảng khắc làm phiền đáng yêu trong trường đời khi tình yêu lên tiếng với nó.

Thằng tôi nhớ…
nhớ chủ đề của bài nói chuyện của nó trước hơn 100 người “Điều Cuối Cùng Còn Lại là Tình Yêu” mà nó được đặt hàng trong chuyến đi. Trong những ngày chuẩn bị, thằng tôi chỉ sống bằng cái đầu để cố hấp dẫn người nghe nó bằng những lý luận về một (công thức) tình yêu. Có gì đó không ổn với một tình yêu đầy những lý luận. Thằng tôi chợt nhận ra là phải ra khỏi cái đầu đầy bã đậu của nó để tình yêu tự do bay nhảy với tiếng sáo tình ngân nga từ con tim. Nó thầm thĩ xin Bác Giêsu chỉ dạy. Bác cười và nói: hãy gắng mà nghe và làm theo khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ khi nó đón những ánh mắt ngại ngùng của những người xung quanh từ khu phố nghèo của đảo quốc nổi tiếng là sạch sẽ và giàu có. Thằng tôi cố không so sánh căn phòng hội họp tiện nghi với con đường kín đầy hàng quán tràn ngập những nhu yếu phẩm ba xu mà nó đang rảo bước giữa cái oi bức mùa hè vùng nhiệt đới. Thỉnh thoảng, những con gió nhẹ rượt đuổi nhau giữa những căn nhà nhỏ hẹp chật chội không những không được cư dân chào đón nhưng còn bị la ó và xua đuổi vì nó cõng theo những mùi hôi thối từ những thùng rác to lớn dù đã được che đậy cẩn thận dọc theo vỉa hè. Dù đã được cho thông tin trước, thằng tôi vẫn cảm nhận khu phố này thật lạ. Khu phố náo động dần lên, tỉ lệ thuận theo bóng tối. Các thanh niên thiếu nữ tách biệt nhau tụ ba tụ bẩy trong áo quần sặc sỡ như những chấm nhỏ chấm to trang điểm cho khu phố thiếu ánh đèn đường. Ngồi bệt xuống với những người xa lạ, thằng tôi giới thiệu mình và đưa thẻ căn cước linh mục để làm tin và bắt chuyện. Thằng tôi nghe được nhiều và chìm dần vào những câu chuyện của “con cò mà đi ăn đêm” và cũng rất nhiều con “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống” ao tù cạm bẫy của nô lệ. Thứ nô lệ được che giấu dưới những nét son và những bộ đồ sặc sỡ. Khi mặt trời trở mình muốn dậy, những tụ năm tụ bẩy thưa dần, nhưng không còn náo động mà thất thểu như ma đói. Thằng tôi mời vài tụ vào hàng quán không biết để điểm tâm hay ăn tối, nhưng sau đó chắc chắn là những cơn ngủ mệt nhoài và lo âu trong thân phận của kẻ nhập cư nghèo, bán thân đi tìm tí mồi và tương lai cho “cò con” cùng với ước mơ đổi đời. Thằng tôi xác tín là sàng khôn mà nó học được đến nhiều hơn từ vệ đường hơn từ phòng hội họp tiện nghi. Trong sự hiện diện với những anh chị em nó đang cần chút lòng thương xót, chủ đề mà thằng tôi diễn giải nơi phòng họp tiện nghi hiện đại, nó gặp được Bác Giêsu lập lại lời dạy năm xưa: “phúc cho ai có lòng thương xót.” Trong lần cuối gặp gỡ bên vệ đường, thằng tôi xin chia tay bằng lời chúc lành và cám ơn vì chính thằng tôi thấy cuộc đời nó cần lắm lòng thương xót. Trong lời chúc lành đó, thằng tôi thầm thĩ xin Bác Giêsu cho nó chút can đảm nghe rõ hơn nữa khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ cái tình của người cha dành nhiều giờ cho nó để nó được sống lại những giây phút được yêu thương chăm sóc, được dạy dỗ. Thằng tôi nhớ những bước đi chậm rãi với cha nó trên hành lang lầu hai vắng lặng nhưng tròn đầy cái tình dành cho nhau. Nó nhớ lại bài học để “Người lớn lên” mà cha nó trao cho nó bằng cách cho nó thấy cách sống mà cha nó đã và đang sống. Trong những giây phút ngắn ngủi này, thỉnh thoảng mặt thằng tôi ướt không phải vì trời Hànội oi nóng làm toát mồ hôi, nhưng vì cái tình quá lớn nó nhận được, nhất là lúc nó nhìn vội mắt cha nó khi nói lời chia tay. Thằng tôi khóc vội và mắt nó nhoà đi, chỉ thấy cái bóng cha nó quay lại, thằng tôi bước chậm xuống cầu thang với tiếng vọng rõ dần về những điều phải sống khi nó nghe tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ những giây phút bên người anh linh mục, người luôn nhắc nó phải sống nghèo. Cả hai tranh thủ từng phút để chia sẻ với nhau những gì được gọi là thổn thức, cho dù đó là văn phòng nơi trại mồ côi có mùi hương hoa Huệ (mái ấm Hoa Huệ), hay trên chiếc honda trên đường dâng lễ. Ngày cả trong những giây phút riêng tư nhất có được cho nhau, thằng tôi cũng được đưa đến nhà trọ để nghe tiếng cười của những người tàn tật từng ngày trên chiếc xe lăn để bán vé số kiếm cơm qua ngày. Thằng tôi được đưa đến vùng biên giới xa xăm để sống thử cái khổ của người Việt kiều không giấy tờ tuỳ thân, không mảnh đất cắm dùi, không có gì ngoài cái sức người để làm thuê như trâu như ngựa trong cái bấp bênh của những người tha phương cầu thực. Thằng tôi nhớ cái nhà của vùng này nhỏ hơn cái bàn làm việc của nó với chiếc mền bông cũ rích được túm bốn góc như cái mái che nắng che mưa. Thằng tôi học được niềm hy vọng nơi người anh linh mục là sẵn lòng cưu mang họ trong tâm trí mình, để bắt đầu sống với họ, lắng nghe họ như lắng nghe tiếng của tình yêu. Từ đó, niềm hy vọng sẽ cho thằng tôi những sáng kiến mà sống cái tình người cho trọn như Bác Giêsu đã trọn tình với nó và những người cù bất cù bơ như thế.

Thằng tôi nhớ…
nhớ buổi họp hành gặp gỡ những người anh em nó đến từ Á, Âu, Phi, Mỹ. Cả tuần bên nhau để tìm hiểu nhau, để chia sẻ nỗi sợ của nhau, để cùng nhau hy vọng và cùng nhau học bài học hợp tác giữa những ngôn ngữ, văn hoá, ưu tiên sống. Thằng tôi nhớ những buổi lễ giờ kinh với hai ba thứ tiếng. Nó nhớ những bữa ăn có cả nước mắm và phôma. Nó nhớ cái tình anh em chọc ghẹo nhau. Nó nhớ ly càfê đậm đen, nhớ ly nước chè xanh mới, nhớ múi mít, lóng mía, nhớ ly bơ dằm, nhớ măng cụt sầu riêng, nhớ thanh long, vải lồng. Nó nhớ tô phở bát bún ban sáng, nhớ bê thui, khoai lùi, nhớ cá kho rau luộc, nhớ quá cái tình anh em một dòng dành cho nhau. Hơn mười ngày sống trong muôn vàn khác biệt ấy, thằng tôi cảm nghiệm thêm cái nét độc đáo rất chung của nhau chính là ngôn ngữ của cái tình mà Giêsu để lại cho trần gian này. Thằng tôi nhận thấy nó cần lắng nghe lắm lắm những tiếng nhỏ to khi tình yêu lên tiếng.

Thằng tôi nhớ…
nhớ lắm viếng thăm gia đình anh em ở xứ càfê bạt ngàn bên mâm cơm chiều vui như hội. Nó nhớ lắm khi thăm các Sr. hưu dưỡng dòng chị nó, dù không nói nhiều nhưng chỉ nhìn nhau là đủ. Nó nhớ lắm khi thăm chủng viện Đàlạt vào những phút cuối của buổi nghỉ trưa. Nó nhớ rong ruổi trên chiếc xe máy mượn để thăm các anh em linh mục. Nó nhớ khi leo cái dốc cao đến rợn người trong mưa để xem trại heo cùng với vất vả của người nhà của anh em nó. Nó nhớ lắm được húp chén canh artisô bên mâm cơm ê a tiếng trẻ. Nó nhớ lời tâm sự của người em vô tình gặp lại bên ly mẵng cầu dằm. Nó nhớ đêm mưa rào thật to trong quán hột vịt lộn đầu đường khi hàn huyên cùng đứa em. Nó nhớ canh sake, mướp sào ở nhà người chị em. Nhớ lắm bàn tay run rẩy của chú thím đưa chén cơm cho nó. Nó nhớ đứng kêu cổng ở nhà cậu sáng sớm sau chuyến xe đêm. Nó nhớ người bạn học lúc còn thò lò mũi xanh giới thiệu thằng con bên thúng lúa. Nó nhớ mẹ nó lủi thủi đi theo nó, nhìn nó từ xa, nghe nó giảng cho mọi người chỉ vì nó không có giờ ở lâu với bà. Nó nhớ lá mơ chiên trứng của mợ, nhớ cái nhăn nheo của khuôn mặt bà, nhớ tật nói nhanh của em họ, nhớ cái cổ đau của cậu. Nhớ ly kem với ông cha bạn khi ngắm Sàigòn đêm. Nhớ chủ quán ốc đêm tắt đèn quán mà nó cùng với mấy thầy vẫn chưa chịu về. Nhớ cái lưng đau của người anh em. Nhớ món cơm Lào bên kênh Nhiêu Lộc. Nhớ mồ hôi rơi lã chã khi đang họp bị cúp điện…Thằng tôi nhớ nhiều lắm và nhớ hết từng người một trong chuyến đi

Chuyến đi làm ký ức của thằng tôi dầy thêm. Không hiểu sao lần này thằng tôi nhớ nhiều lắm và nhớ hết từng người một, nhớ luôn những buồn vui sướng khổ của từng người nó gặp. Có lẽ cái sàng khôn lớn nhất thằng tôi học được trong chuyến đi là tập chơi cho thật đẹp, tập sống cho thật đẹp và để được như thế, trong mọi mối quan hệ, cứ để tình yêu lên tiếng. Và rồi nó nhớ Bác Giêsu nhà mình cũng nói: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Nhớ đến Bác là mang vác đời nhau như Bác mang vác đời nhân loại. Bác Giêsu đã chơi thật đẹp bằng cách mang vác đời người đến bầm dập cả tâm hồn. Bác sống thật đẹp vì đã nghe được tiếng tình và dạy môn đệ ráng mà nghe cho rõ khi tình yêu lên tiếng trong cốt lõi lòng mình. Bác nói hãy nhớ đến Bác là lúc Bác bị nghiền nát, bị bẻ ra, bị trao nộp, bị giết chết. Và cũng chính lúc này, chính lúc cử hành việc Bác chết đi là lúc tình yêu lên tiếng, lúc mà tên gọi là lời chúc tụng tạ ơn. Tình yêu không thể chết và vì vậy, lúc nhớ Bác chết cũng là lúc vui mừng với sự Phục sinh của Bác qua việc ăn uống con người của Bác để mà được ở trong Bác và ở trong nhau.

Là linh mục, thằng tôi dâng lễ mỗi ngày. Mỗi khi thấy Bác Giêsu trong đĩa thánh, thằng tôi xin Bác cho nó ở đó với Bác. Bác đồng ý ngay và còn bảo là mang vác đời của những người bước qua đời nó vào đĩa thánh. Thế là đĩa thánh cứ rộng ra, cứ nặng dần, và tay nó run run không nâng lên nổi vì sức nặng của khó khăn nhọc nhằn. Thằng tôi cũng xin Bác cho nó tan chảy ra trong chén thánh. Bác đồng ý ngay và còn khuyên nhủ là nên đụng chạm cho hết những buồn vui sướng khổ của mọi kiếp người. Thế là chén thánh cứ tuôn tràn những ân tình lênh láng ơn cứu độ của Bác , và tay thằng tôi run rẩy chỉ biết phân phát cho tròn, cho hết, cho đến tận cùng.

“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.” Cái sàng khôn lần này là bài học nhớ lại. Ráng mà học để nhớ hết, nhớ trọn những gì xảy ra khi tình yêu lên tiếng. Và theo Giêsu nhớ là làm. Ráng mà làm cho hết, cho trọn những gì cần phải làm khi tình yêu-khi Giêsu lên tiếng.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cõi Trần Cõi Thiêng

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời

Những công việc dồn dập ngập đầu với những hạn chót phải xong trong những ngày cuối tháng Tư đầu tháng Năm dường như làm thời gian trôi nhanh hơn bình thường. Trong những ngày này lại có quá nhiều những kỷ niệm của những chuyện xảy trong quá khứ, rồi những cử hành trong từng ngày sống, và cùng với chuẩn bị những công việc liên quan tương lai. Giữa những bề bộn đó, thằng tôi dọn bài giảng cho lễ “thăng thiên” và bỗng nhiên nó bị lôi cuốn vào và bị giằng co với tư tưởng “cõi trần cõi thiêng” – đâu là cõi thật? đâu là Quê Nhà?

Dù thuộc về dân tộc nào hay văn hoá nào, ai ai cũng đối diện với cái chết. Dù luôn là một bí ẩn đầy tính nhiệm mầu, cái chết là điều gì đó rất chắc chắn. Ai cũng biết là bất cứ ai đều không thể mang bất cứ điều gì khi họ chết. Phải chăng điều này làm cho con người quan niệm cõi trần này là tạm bợ và thằng tôi tin là không chỉ người Việt và văn hoá Việt mới có quan niệm này.

Có tạm bợ thật không khi sau mỗi ngày làm việc, thằng tôi cất bước theo những lối mòn ngắm nhìn mùa xuân với muôn sắc mầu của đất trời cỏ cây, nghe những tiếng hót líu lo của chim chóc đủ loại gọi nhau trao tình và tiếng suối róc rách âm thầm làm nền cho bản giao hưởng của thiên nhiên, hít ngửi những hương thơm thoang thoảng của đất, của gỗ, của hoa lá cỏ cây và cái mùi đặc trưng của khói xe trên đường phố hay những mùi vị hấp dẫn từ lò nướng nơi một góc của công viên đông người. Có tạm bợ thật không khi làn da đụng vào mặt hồ phẳng lặng làm cái chân nhón lên vì lạnh hay đôi tay chạm phải cái gì đó mềm mềm nhớt nhớt ở vườn rau bé tẹo sau nhà và ngón tay giữ cái gai nhọn ở đốt giữa khi cắt hoa ở bờ rào để bàn ăn thêm đẹp. Có tạm bợ thật không khi nuốt xuống vị ngọt của chà là, khi nhâm nhi tách trà xanh, và khi vội húp chén canh rau để khỏi nguội…

Có tạm bợ thật không khi phải lòng ai đó để rồi cái khoái rần rần lên trong tim trong thịt nhưng lại nghĩ suy là ở tạm như ca từ của nhạc sĩ họ Trịnh: “ta nay ở trọ trần gian…” hoặc cầm tay trong nước mắt nghe giọng nghẹn ngào của người bạn an ủi ngược lại mình khi thăm mẹ nó qua đời: “sống gửi…thác về.” Có tạm bợ thật không khi nhớ lại mắt Phật lim dim, môi mỉm cười nhẹ, an toạ thư thái nơi toà sen và chỉ dạy chúng sinh thoát khỏi kiếp trần như bể khổ vì những nhục dục sân si. Có tạm bợ thật không khi nhớ lời cha giáo dạy triết Đông bảo rằng “sắc sắc không không” nhưng có ai quất roi mây vào mông một cái thật mạnh và hỏi thử cái “không không sắc sắc” ấy có đùng đùng nhảy đổng lên vì đau. Có tạm bợ thật không khi sung sướng vô cùng, dù chỉ là trong ý nghĩ, vì cái thằng mình ghét cay ghét đắng nó bị đụng xe liệt người nằm một chỗ. Có tạm bợ thật không khi nhìn ai đó uất hận đến chết đòi lại mảnh đất từ đường như máu mủ của cha ông để lại. Có tạm bợ thật không khi lòng quặn lại vì ngư dân quê mình bị tàu lạ đâm chìm. Có tạm bợ thật không khi ý thức hệ giam tù lương tâm đến ngay cả nấm mồ cũng thành nạn nhân.

Cái hòm quá nhỏ để chứa tất tần tật mọi sự thuộc về cái cõi trần này, cái xác thân này, cái lòng này, và những tư tưởng kín đáo này. Có lẽ vì thế tất tần tật chỉ là tạm bợ chăng? Nhưng thằng tôi đang sống ngày hôm nay là ngày của Mẹ theo văn hoá, và là ngày ra trường của nơi nó từng làm việc. Cái tình mẹ và cái bằng cấp cô cậu đang cầm trong tay với bao vất vả của mẹ cha cũng chỉ là tạm bợ thôi sao? Lại thêm nữa, hôm nay là ngày mừng Chúa lên Trời theo lịch Giáo Hội. Chúa Giêsu phục sinh lên trời để từ bỏ cõi trần này. Thế thì lại càng có lý do để nghĩ cõi trần này làm tạm bợ.

Giáo hội cử hành ngày Giêsu bỏ cõi trần này để lên cõi thiêng. Không một ai dám khẳng định  biết cõi thiêng đó ở đâu và có những gì hay cuộc sống ra sao ở cõi thiêng ấy. Nhưng Giáo Hội biết rất rõ là Thiên Chúa vô hình đã bước vào cõi trần hữu hình tạm bợ này. Thiên Chúa cũng đã bỏ cõi thiêng ấy mà sống ở cõi tạm này hẳn hoi. Ai ai cũng biết giấy thẻ căn cước của Bác Giêsu và đúng là không ai phủ nhận Bác Giêsu là người. Vậy khi mừng Bác lên cõi thiêng, Giáo hội khẳng định Bác từ cõi thiêng mà đến. Bác trở về cõi thiêng nghĩa là Bác đang sống vì có sống thì mới trở vể được. Vậy mong thay Bác nói cho nghe một chút kinh nghiệm của cõi thiêng ấy.

Bác nói rằng cõi thiêng ấy ở cõi trần này chứ chẳng phải lên lên xuống xuống gì cả. Có thật không khi Bác bước vào cõi trần tạm bợ này để tuyên bố nó là cõi thiêng. Bác không làm thần lung linh lộng lẫy nhưng làm người để bước vào cõi tạm với cái hơi thở của con người, bước vào cái lõi của con người, nơi tâm con người. Trong ngày này, Giáo hội đọc cho con cái mình và thế giới này biết câu hỏi của cõi thiêng: “này người…sao còn đứng đó mà ngước lên (trời)?”

Có thật không khi Bác Giêsu cầm lấy cái thẻ căn cước của cõi trần để bị muôn vàn giới hạn của nó vận vào. Bác ở Dothái, làm thợ mộc nghèo, giảng dạy cái phúc là cái nghèo nên chỉ có lèo tèo vài đệ tử, chết đớn đau quằn quại như tên tử tù nghèo nhục nhã chỉ có miếng vải che lấy cái  khu và để lộ toàn thân bầm dập tả tơi vì bị đánh, và khi chết rồi thì cái kiếp nghèo cũng chằng rời,  nghèo đến cái mộ cũng phải đi mượn.

Bây giờ, Bác lên cõi thiêng và có thật không là Bác phá tan đi cái lời nguyền giới hạn trong cái căn cước đó. Bác lên cõi thiêng để ở trong mọi người khắp chốn khắp nơi cho dù họ giết Bác ngay trong lương tâm họ. Bác lên cõi thiêng để cái nghề thợ mộc bây giờ là sự hiện diện trong tất cả mọi vất vả lam lũ để giọt mồ hôi của muôn thế hệ cõi trần này hoà vào mồ hôi của Bác. Có thật không bài học nghèo của Bác ngày xưa bây giờ là sự dửng dưng đứng ngoài cuộc để nhìn nỗi đau của người người khắp chốn.

Có thật không khi cõi thiêng là nơi không cần áo quần che thân để cái sẹo lù lù ra đấy với lời mời của Bác là thọc tay vào đây: vào tận tâm căn xương cốt của linh hồn ai đó bị lạm dụng tình dục. Ở cõi thiêng, Bác mời đút ngón tay vào đây: vào cái lỗ đinh của bao người sống như thân tàn ma dại bởi những cơn nghiện ngập. Có thật không ở cõi thiêng khi Bác cởi mão gai ra là để cho ai đó thử cái gai nhọn của lợi ích nhóm đang làm tan nát bao kiếp người trong tiếng đùa cợt khinh khi của mưu mô dự án với muôn vàn tính toán ma mãnh để mảnh giấy đôla rơi vào cái túi không đáy của lòng tham.

Có thật không khi ở cõi thiêng, toàn bộ con người của Bác được bẻ ra, đổ ra để trở thành một phần máu thịt và sự sống như “hoa màu ruộng đất và rượu bởi cây nho” được nhào nặn bằng “công lao con người”nơi cõi tạm này để từ đó, khi mọi nhân sinh cúi đầu, khoanh tay há mồm đón lấy trong cung kính cũng sẽ bị bẻ ra, bị đổ ra cho anh chị em nó sống đẹp thêm một chút, sống vui hơn một chút, và sống người hơn một chút trong tử tế của cái tình đồng bào, trong thân ái của hoà giải thẳm sâu, và trong công bằng bác ái của tự do và sự thật.

Có thật không khi ở cõi thiêng với những hoan hỉ cực lạc tột cùng chưa ai biết được, Bác mời ai đó ở vị trí cha chú thiên hạ nói thật lòng lời chữa lành để con dân mình đứng dậy làm người cõi thiêng như Bác thốt ra rằng: “ngay hôm nay, thằng ăn cướp này, con đĩ bán thân này, thằng đểu cáng xỏ lá này, con Sen mọi rợ này, …ở với Bác” trên cõi thiêng.

Cái cõi trần với suy nghĩ “có tạm bợ không” đan vào cái cõi thiêng với nghĩ suy “có thật không” như ngọn đèn cho thằng tôi mò mẫm từng bước đi trong ngày. Là tu sĩ theo Bác Giêsu, thằng tôi vẫn mãi mày mò con đường của Bác để mà tu cho đắc đạo. Bài học thật rõ ràng ra đó rồi con gì: cõi trần này “tạm bợ” đấy nhưng là cõi thiêng để sống. Cõi thiêng này “có thật không” ấy là những gì cụ thể tạm bợ của cõi trần.

Điều thằng tôi thèm thuồng và ước mong mà nó chưa làm được là có một tự do như Bác Giêsu. Bác có tự do trọn vẹn và mênh mang để bước vào cõi trần tạm bợ cũng như bước lên cõi thiêng thật của cuộc sống. Bác sống như “kẻ không có chỗ gối đầu” và Bác sống với ý thức “nước tôi không thuộc về thế gian này.” Bác Giêsu kinh nghiệm rằng cuộc sống ở cõi trần này không hoàn hảo và có lẽ sẽ mãi mãi không hoàn hảo; nhưng Bác dạy cho đệ tử mình hy vọng và không được phép sống trong tuyệt vọng. Bác biết là cõi trần này vẫn còn ngập tràn gian dối, tư lợi, ma mãnh, vùi dập nhau, chửa rủa nhau, lợi dụng nhau, đâm chém nhau, làm đau đớn nhau; và chính vì những thê thảm khốn nạn ấy mà Bác tự do bước vào. Bác bước vào đề làm cho chúng thành cõi thiêng và rồi Bác thong thả, nhẹ nhàng, tự do ra đi khi chúng vẫn ngổn ngang, bầy hày và đôi khi còn hỗn độn hơn trước lúc Bác bước vào. Bác dạy phải hy vọng vì Bác hy vọng vào những chàng trai, những cô gái sẽ có một khoảng khắc trở nên tự do bước vào những nơi “không có chỗ gối đầu” để sống, để yêu, và để nói được  như Bác là “nước tôi không thuộc về thế gian này.” Kinh nghiệm làm người của Bác đã biến đổi  “tạm bợ” của cõi trần này thành cái gì đó rất thật của “cõi thiêng”

Bác Giêsu sống và kinh nghiệm rằng cuộc sống ở cõi thiêng ấy luôn tốt đẹp và cần được loan truyền cho đến tận cùng mọi nơi ở cõi trần này. Bác sống kinh nghiệm cõi thiêng ngay ở đây để những chàng trai và những cô gái sẽ không mãi “ngẩng mặt nhìn trời”; nhưng phải tự do mà đặt chân vào những nơi nắng bụi mưa bùn, tự do để bàn tay mình thành bàn tay của con Sen nơi trại HIV, thành bàn tay của bà mẹ nơi trại mồ côi và viện dưỡng lão để mà tắm rửa cái thân thể vi trùng không ai muốn rớ vào, để chùi cái bàn hậu hôi thối không ai muốn cúi xuống. Bác Giêsu hứa là sẽ củng cố bằng những phép lạ kèm theo chính là sự hiện diện của Bác để mọi nam phụ lão ấu tự do biến tâm hồn chúng thành trường của yêu thương và đủ lớn để tất tật mọi người đều có một chỗ để chui ra chui vào trong trái tim bé tẹo tèo teo của thân xác cõi trần. Bác đã mang vác dân tộc đớn đau của Bác từ cõi trần vào cõi thiêng bằng những đồng hành cảm thông để dạy cho những nam thanh nữ tú cũng biết mang vác vào cái đớn đau của họ những câu chuyện có tên Thủ Thiêm, có tên Formosa, có tên Hoàng Sa, có tên Thiên An Tu Viện, có tên Dòng Tu Phao Lô, có tên Tam Toà, có tên Mẹ Nấm, có tên Việt Khang, có tên Người Buôn Gió, có tên Trần Huỳnh Duy Thức, có tên Trương Duy Nhất, có tên Lưu Văn Vịnh, có tên Nguyễn Văn Đài… Bác tận tâm truyền cái lý của cõi thiêng cho mọi thành phần để họ tìm thấy cái khôn ngoan mà sống cho tử tế, cho ra người với câu thần chú: “ai trong anh em vô tội, hãy là người ném đá trước đi”

Nhìn vào tờ giấy trắng chỉ có vài cái gạch đầu dòng để nói về việc Bác Giêsu lên trời, thằng tôi bỗng thấy mọi sự trở nên vụn vặt và nhỏ nhoi vô cùng trước sự tự do của Bác Giêsu; vì có lẽ Bác Giêsu chẳng lên đâu cả. Bác cứ tự do bước vào cõi trần rồi lại bước qua cõi thiêng. Bác bước qua bước lại trong từng ngày sống của từng cuộc đời, từng thân phận của từng dân tộc. Bác lên tiếng mời gọi và hy vọng nghe câu trả lời mỗi lần cất bước; và có lẽ cõi trần hay cõi thiêng không còn quan trọng nữa với Bác nữa. Có lẽ Bác muốn thằng tôi này hãy tập nhìn mọi sự không là gì để cứ tiếp tục bước đi trong hy vọng và tự do. Bước đi để thấy mọi sự, để tự do ôm ấp mọi sự và cũng tự do buông bỏ mọi sự. Chẳng biết là phải giảng gì về cuộc lên đường của Bác Giêsu, nhưng chắc chắn sẽ nói về tự do của Bác, về cách Bác bước vào cõi trần và cách Bác bước vào cõi thiêng. Nói về Bác cũng là nói về kinh nghiệm của thằng tôi về Bác. Lần này, một kinh nghiệm giằng co giữa cõi trần và cõi thiêng là điều gì đó phải nói ra để xin mọi người thương mà cầu nguyện, mà giúp cho nó cất những bước tự do trong đời. Bước đi để mà thành con người tự do. Tự do để không ai thấy mình, tự do để bay cao như mây, tự do để trôi vèo như dòng nước, tự do để tàn úa như cánh hoa, tự do để đọng lại nơi “kín ẩn” nơi mà sự giằng co trở thành ân sủng, nơi mà từng bước của thằng tôi trên cõi trần này lại là từng bước trên mây ngàn của cõi thiêng.

Có lẽ cái giằng co lúc này là sự tự do nhất mà nó đang nếm được. Thằng tôi cám ơn Bác Giêsu mà nó chuẩn bị lập lại lời của Bác ngày xưa, để nó có thể cầm lấy Bác, nhai chầm chậm Thân Thể Bác, uống từng ngụm Dòng Máu Bác để Bác biến đi và thành năng lượng cho nó sống. Cái nguồn Năng Lượng của Cõi Thiêng ở ngay Cõi Trần giúp nó tự do hoàn toàn và trở nên vô hình như Bác trong những gì rất cụ thể: bệnh tật, công việc, đớn đau, trách nhiệm, tương quan, vân vân, trong cõi trần này.

Cõi trần hay cõi thiêng có lẽ chẳng là nơi nào cả; nhưng nó ở nơi một con người hữu hình và vô hình có tên Giêsu với xác thân tạm bợ và sự thật phục sinh vinh quang.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hương Quê và Những Nỗi Đau

William Shakespeare viết “Độc Thoại” của mình bắt đầu bằng câu: “Cả thế giới là sân khấu, tất cả mọi người chỉ là người diễn.” Xét trên khía cạnh nào đó, thằng tôi thấy đúng lắm. Trong sân khấu thế giới này, ai ai cũng biết vở diễn là chính cuộc đời rất riêng của từng người. Vở diễn cuộc đời này không ai được tập dợt trước vì không ai biết gì để tập. Từng người được đặt vào sân khấu này và được mang ra khỏi nó như định mệnh của một cuộc lữ hành.

Nơi sấn khấu cuộc đời, có những lúc thảnh thơi và nhẹ nhàng. Có những lúc mọi sự khó khăn, bất hạnh, xui xẻo dồn dập vào cùng một lúc. Cho dù bất cứ ai ráng hết sức để diễn thật tốt vai của mình và chủ động hết sức để mang vào sân khấu cuộc đời mình những gì là đẹp đẽ nhất, hạnh phúc nhất, nhưng dường như vở kịch cuộc đời phần nhiều là bi kịch. Trong khi phải vào những vai bi kịch đó, từng người diễn không diễn nỗi đau của mình,  nhưng là sống thật những nỗi đau. Khi giây phút mà mọi sự xảy ra cùng một lúc như thế, nỗi đau nơi thể xác, nơi tinh thần, nơi tình cảm mà ai đó phải đón lấy và giải quyết nó trong một khoảng khắc nhất định thì thật đáng sợ. Trong khoảng khắc nhất định ấy, ai ai cũng có thể sẵn lòng bước vào những mạo hiểm, hoặc đánh đổi tất cả để có được điều duy nhất còn lại mà họ muốn có.

Tháng Mười Hai 2017, khi trở lại vùng Đông Bắc, sân khấu của thằng tôi đặt nó vào đúng khoảng khắc đó. Khoảng khắc của ba nỗi đau thể xác, tinh thần và cả tình cảm đến cùng một lúc.

Bắt đầu nơi thể xác nó.
Thằng tôi không biết chuyện gì xảy ra mà người nó đau ê ẩm, ngồi cũng đau, đứng cũng đau, đi cũng đau, nằm cũng đau. Và rồi mỗi tuần một lần trong tám tuần liên tiếp, cứ đến ngày hẹn, nó đến một nơi có lẽ không ai muốn vào, ngồi đó với cái thân gắn những dây nhợ như những ống hút mà trong đó có chất gì đó không mầu, không mùi, không vị.

Chiếc ghế bành khá thoải mái nhưng không làm giảm đi sự ê ẩm. Có lẽ chẳng có gì làm nó bớt đau cái xác dù có đổi thế ngồi, hay đôi lúc đứng lên bước một vòng mà đường kính của vòng tròn đó chỉ lớn hơn cái miệng thau đặt lên nồi chưng rượu của bà ngoại thuở xưa. Thằng tôi giết thời gian bằng cách quay ngược đồng hồ, bước vào sân khấu tuổi thơ để xem lại vở kịch của nó. Vở kịch cuộc đời nó làm nó quên đi cái đau vì đã mang đến cho nó cái mùi hương quê đậm đà, da diết không tả được. Nơi quê ngoại, thằng tôi nhớ mùi hương của lúa mới nơi cánh đồng hoà vào mùi mồ hôi của ông, của cậu. Nó nhớ giọt nước mùi bùn của mớ rau muống được mẹ đội về từ bào, ruộng rỉ xuống đầu xuống thân và quyện vào của mùi cơ thể dầm mình trong mưa trong nắng. Nó nhớ mùi mật đường của chiếc bánh cam làm nhỏ rãi hai chị em ngồi bán bay theo mùi khói của chiếc xe than thỉnh thoảng dừng lại đón trả khách bên đường. Nó nhớ mùi xì dầu nước mắm khi mút lấy cái lõi chuối non để nuốt vội bữa cơm nặng mùi sắn độn nhưng vẫn thơm ngon hơn mùi cám khi bà bỏ mớ thân chuối già mới bằm vào nồi cám heo sôi sùng sục. Nó nhớ mùi lạc rang, mùi cá nướng, mùi khoai lùi bay ra trong cái túi lá dong trong cái giỏ lác để mang cơm ra đồng cho ai đó vất vả lên luống cho kịp mùa kịp vụ. Nó nhớ thoang thoảng mùi lá mạ non bị dập khi ông bó lại từng bó trước bình minh để kịp gánh ra đồng cho mọi người đang gập lưng bước lùi cấy những hàng mạ thẳng tắp trên cánh đồng. Thằng tôi nhớ mùi cháy khi ông đốt rẫy chờ mưa để bỏ hạt ngô hạt đậu hay mùi khói đồng nghi ngút sau khi mót lúa.

Nơi quê nội, thằng tôi nhớ mùi nhang của bàn thờ tiên tổ ở gian giữa của mái nhà. Nhớ mùi cơm chay mái chùa dịp lễ Vulan. Nhớ mùi ngo già đượm sáp thông để nhóm bếp than bên cái hiên nhà được che bằng miếng giấy bìa để được gọi là bếp. Nhớ mùi thối nồng nặc của phân gà  chui vào khẩu trang khi cùng mẹ, cùng chị dọn chuồng đón lứa gà mới cho cô chú. Nó nhớ mùi hôi của nước miếng dê sau khi ôm đống cỏ mới cắt về, bỏ vào máng ăn của dê trước khi khoá chuồng mỗi tối. Nó nhớ mùi khai của nước đái thỏ khi dọn mớ cỏ bìm bịp tím mỗi cuối tuần nơi nhà cô G. Nó nhớ mùi lá hoa Dã quỳ nấu lên làm nước rửa cho hết ghẻ ở chân. Nó nhớ mùi hoa thông trên những sườn đồi như cái dấu mùa lạnh về. Nó nhớ mùi hạt hoa ngũ sắc chín tím lịm khi nó chà xát lấy mầu bôi trên áo ai để trêu đùa. Nó nhớ về mùi cỏ của những đồi sim khi chạy chơi trốn tìm quên cả ngày giờ. Nó nhớ mùi hoa Anh Đào, nhớ mùi sâu róm khi hái trộm ổi bên nhà ông N.C. Nhớ mùi rau ngùi, rau diếp bên luống rau của bà cố thầy N. ở đường Yết Kiêu.

Trong thằng tôi  lúc này không còn là ngoại là nội nữa, nhưng là quê hương. Những hương quê ấy, tuy rất đơn sơ và giản dị nhưng đã ướp thời thơ ấu, đã ngấm vào thịt xương, đã nuôi thằng tôi lớn lên từng ngày để thành mùi thương mùi nhớ. Lúc này hương quê đâm nghĩa đậm tình của một thời làm nên phần đời thơ ấu ấy như liều thuốc tiên làm nó cay xè mí mắt và quên đi cái mớ dây nhợ không mùi vị xung quanh mình. Cái hương quê làm nó thoải mái nhẹ nhõm như đang đang được ru trong “chiếc võng quê hương” hơn là cái ghế bành hiện đại. Cái hương quê ấy làm cho thằng tôi không còn cảm thấy đau nữa và có sức chờ điều tốt đẹp của từng ngày mới.

Kế đến là tinh thần nó.
Trở về từ một vùng đất nghèo xa xôi không nói chung ngôn ngữ. Người ở đó nghèo đến độ khi chết phải thuê quan tài để chờ chôn. Cơn tuyết đầu mùa đón thằng tôi trở từ vùng đất nóng ẩm làm không khí hàng ngày như cái phòng tắm hơi. Cái tĩnh mịch của mùa Đông theo bông tuyết về bao phủ như chiếc khăn bông làm cho mọi sự dường như chậm lại trong nghỉ ngơi của đất trời không làm thằng tôi quên đi tiếng ồn ào của đường phố bận rộn như khung cửa của những người nghèo lam lũ kiếm sống bất kể ngày đêm. Trong cái tiếng ồn ào ấy, thỉnh thoảng nghe tiếng súng nổ xa xa buộc thằng tôi lướt vội những dòng chữ in đậm nơi mặt báo sáng hôm sau. Trở về từ vùng đất mà nắng nóng làm cháy sạm da mặt của những người bán rong buổi sớm khi mắt đất còn đọng sương khác hẳn với cái bóng nắng mùa Đông làm cây cối và mọi cảnh vật in trên tuyết trắng. Thằng tôi trở về từ vùng nóng vùng nhiệt đới làm nâu sầm cành hoa mới cắt dù hương thơm còn thoảng. Lúc này, nắng vùng Đông Bắc làm những trái dâu rừng đượm lên sắc đỏ như son môi của cô đào với cái đẹp nhẹ nhàng cuốn hút của đêm hội làm mê mệt những cánh chim và những chú sóc nhỏ tìm thức ăn giữa những sườn đồi phủ tuyết. Trở về từ nơi mà những cơn mưa ầm ầm trút nước như thác làm con đường duy nhất vô làng trở thành suối bùn bởi đất chùi từ sườn đồi trọc loe hoe vài ngọn cỏ. Lúc này, thằng tôi sống ở nơi mà những con mưa nhẹ mùa Đông làm những cành cây đọng nước gặp lạnh vội đông lại thành đá. Dưới nắng Đông ngắn ngủi, những giọt nước đọng lại như những viên kim cương được Thượng Đế trang hoàng cho đất trời. Trở về từ vùng đất chỉ có hai mùa mưa nắng cùng với những con người lam lũ, vật lộn với cái nghèo, và đôi khi đẩy ai đó vào những tệ nạn của cuộc vui để đến với cái đẹp bốn mùa xuân hạ thu đông đầy sắc mầu và người người dù có khổ lắm cũng vẫn có được chọn lựa bữa tối cho mình và cái chăn đắp khi đêm về. Gần đến ngày chia tay vùng đất nghèo, khuôn mặt mẹ đất vẫn còn bê bết bùn của những cơn lũ. Khi lũ đi rồi, mặt mẹ đất lại hôi thối và bẩn thỉu vì giữ lại những rác rưởi mà chúng không có con nước bồng bềnh cuốn đi. Nơi thằng tôi ở lúc này, mặt trời rong ruổi viếng thăm và hôn lên mẹ đất bằng hơi ấm của mình làm cho những người con của đất trở mình vươn lên để khoe sắc mầu. Sắc xuân trên từng hiên nhà và từng góc phố.

Giữa hai khung trời rất khác nhau mà thằng tôi đều gọi là nhà, cái đầu nó nghĩ ngợi miên man về những đối nghịch nơi kinh nghiệm của nó. Nếu thế giới này là sân khấu, không hiểu sao sân khấu ấy tồn tại những cảnh đối nghịch nhau trong cùng một giờ diễn. Thằng tôi biết rất rõ thân xác nó đang ở trong không gian của vùng Đông Bắc, mà tinh thần nó thì ở xa lắm nơi vùng hẻo lánh nghèo nàn mà nó đã đến, đã sống và đã làm việc cùng với những con người thật nhỏ bé và đơn sơ. Làm sao để mang vùng Đông Bắc đến vùng xa xôi ấy và làm sao để vùng xa xôi ấy có một chỗ ngồi xứng đáng trong lòng vùng Đông Bắc. Không phải cái nóng ẩm hay cái lạnh của vùng miền làm thằng tôi nhức đầu. Không phải cái tiêu chuẩn giầu nghèo làm cái đầu thằng tôi tưng tưng. Không phải văn minh và lạc hậu làm tinh thần của thằng tôi đau đớn, mà chính là các vai diễn cuộc đời, những con người đích thực đang sống trong sân khấu thế giới này và đang kinh nghiệm vai diễn của mình ở một thời điểm nhất định của vở kịch.

Trong tinh thần thằng tôi lúc này, không còn vùng miền nào nữa nhưng là sự liên đới. Tình liên đới như mùi hương mới của của cuộc hành trình trong tâm trí. Nó biết rằng dù ở vùng miền nào, sân khấu thế giới sẽ trở nên dễ chịu hơn, đẹp đẽ hơn khi hạt giống của liên đới bắt đầu nở những nụ hoa tử tế, hoa quảng đại, hoa nhân ái, hoa công bằng, hoa thứ tha. Thằng tôi biết rõ liều thuốc chữa nỗi đau tinh thần của nó là sắc mầu của những bông hoa này cho dù những khó khăn và lạnh lùng vẫn còn lưu lại nơi sấn khấu thế giới này.

Cuối cùng là tình cảm nó.
Không hiểu sao lúc này, những con người từng đi qua cuộc đời của thằng tôi dù đang sống hay đã chết đều hiện về sánh bước với nó. Những tình bạn thời thơ ấu, những tình yêu đầu đời, những bạn bè trang lứa, những quan hệ công việc, những tình cảm máu mủ cùng nhau ùa về làm tim nó trở nên nhỏ bé. Ngồi ngẫm lại những thứ tình mà nó có được, thằng tôi luôn cảm thấy chẳng bao giờ nó yêu thương đủ.

Không thể phủ nhận những sự hưng phấn cho cuộc sống mà yêu thương mang lại. Nhưng cũng có những lúc ai ai cũng cảm nhận được sự bất lực trước những mong muốn và khát vọng được yêu. Niềm hạnh phúc và nỗi đau của yêu thương dường như không có gì tả được. Trên sân khấu của thế giới này, có lẽ khi vào vai diễn trong một cuộc tình, ai ai cũng dần nghiệm ra rằng người diễn chỉ cần ở bên nhau, không cần nói gì cả bởi vì “ở bên nhau” là kịch bản tuyệt vời nhất trong tất cả các loại tình. Ở bên nhau để yêu thương nhau và ở bên nhau để cảm nhận những nỗi đau là những gì được gọi là “sống.” Mỗi tuần ngồi trong chiếc ghế bành, nó nhận ra có những nỗi đau trong đời dường như là quy luật của vai diễn cuộc đời. Thằng tôi nghĩ rằng, khi ai đó đến lúc phải vào những vai diễn về các mối tình đều cảm thấy thế giới này không còn nhiều thú vị vì họ phải bước sâu vào những nỗi đau để tìm ra giá trị của nó. Tất cả mọi hỉ, nộ, ái, ố của cuộc đời này có những giá trị cần thiết để đào tạo người diễn lớn lên, khôn dần lên để mà học được cái bài học “ở bên nhau.” Hoá ra vai diễn cuộc đời sẽ không ý nghĩa nếu không mang vác ai đó vào chính mình để mà tập yêu thương.

Thằng tôi ngồi ngẫm nghĩ lại thấy Giêsu khi sắp được đưa ra khỏi sân khấu thế giới này, Giêsu đã cho học trò mình một kinh nghiệm rất quan trọng để sống đó là được làm bạn với Thầy mình và với Thượng Đế của mình. Niềm tin của thằng tôi giúp nó hiểu rằng Thượng Đế của nó chính là sự hiện diện bên nhau trong tình yêu bởi vì Thượng Đế của nó có tên gọi là TÌNH. Trong cái TÌNH (viết hoa), linh hồn của thằng tôi như tràn trề năng lượng để sống dù cái thân xác mệt nhoài và cái đầu đau lên vì bị những giằng co trong chọn lựa. Nếu Thượng Đế đặt nó vào sân khấu cuộc đời này để chính Ngài có thể làm bạn diễn của nó, thì chính Ngài cũng chờ đợi cái giây phút nó mời Ngài vào diễn chung vở kịch cuộc đời nó. Thằng tôi nhận ra là đã từ rất lâu, nó cứ trì hoãn việc yêu thương để mở rộng trái tim mình. Nó cứ dùng dằng diễn một mình cho dù Giêsu đã diễn “tới bến” vai diễn của Ngài mà đôi khi nó cố tình không nhận ra. Đó chính là nỗi đau thật lớn.

Có thật đó những nỗi đau, nhưng thằng tôi lúc này lại sống vai diễn mình rất khác. Nó nhìn ra trong căn bệnh mà nó đang chữa trị một hơi ấm của cái Tình. Trong hơi ấm ấy, thằng tôi muốn giữ thật lâu trong trí mình những sắc mầu của kỷ niệm  của mọi vùng miền của cuộc sống nó như những cánh hoa mùa xuân giữ nắng, hít thật sâu vào lồng ngực mình hương thơm của cái tình như mùi hương quê nó có được thời thơ ấu, ghì chặt trong hồn mình những hy vọng cho một ngày mai đẹp hơn như ai đó vẫn không muốn lên đèn để hoàng hôn nấn ná đọng lại để ai đó có thêm giờ ở bên ai đó.

Xin được cám ơn biến cố sức khoẻ của cuộc đời. Thằng tôi hy vọng bệnh sẽ hết và những nỗi đau sẽ không còn theo thời gian. Nó hy vọng một sự sống mới sẽ đến bắt đầu với những chia sẻ của tiếng lòng dành cho nhau.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ranh Giới Mong Manh

(Đêm thứ Bẩy Thánh 2018 – Một đêm trắng trong hạnh phúc tột cùng!)

Không dám nói cho ai, nhưng chỉ nói cho riêng mình rằng: có lẽ càng sống dài theo năm tháng, thằng tôi thích bước ngược thời gian để nhìn lại những gì còn đọng lại trong ký ức, nhất là những kỷ niệm hoặc biến cố của thời thơ ấu mà chúng có phần nào đó định hình nên con người  của thằng tôi lúc này. Năm tháng trôi qua mau và các kỷ niệm trong quá khứ cũng được bộ nhớ gạn lọc và chọn lựa từ từ để ký ức giữ lại những gì đáng quý nhất cho cuộc hành trình về cội nguồn. Có những biến cố được ký ức nâng lên đặt xuống trong phân vân của chọn lựa. Có một vài biến cố mà ký ức quyết định mang theo ngay lập tức trong cuộc hành trình mà không có chút khó khăn nào và một trong biến cố đó của thằng tôi là Phục sinh 1980.

Vào lúc ấy, khi thằng tôi còn dùng tay quệt ngang cái “mũi thò lò” để cái mặt được chùi bởi tay áo, thằng tôi lần đầu khóc vì cảm thấy mình được yêu một cách rất đậm sâu. Cái kinh nghiệm muốn được ở lại trong khoảng khắc được yêu ấy thật lâu có gì đó hết sức linh thiêng và khó tả. Đêm thứ Sáu Thánh ấy, khi dự xong “nghi thức an táng” của một người có tên Giêsu, cái giọt nước mắt của thằng tôi lúc đó buồn thì ít mà hạnh phúc thì nhiều, có lẽ chỉ là cảm tính vì chẳng hiểu biết gì nhiều ngoài những bài học thuộc lòng và những gì phải làm đến từ gia đình và thầy cô; nhưng thằng tôi cũng không thể từ chối là cảm xúc ấy lớn dần theo năm tháng và thôi thúc thằng tôi thường xuyên tìm về lại cái kinh nghiệm linh thiêng và khó tả ấy trong cuộc sống hằng ngày của nó.

Sau khi mọi cử hành phụng vụ của ngày thứ Sáu Thánh kết thúc, trên con đường về nhà, dưới ánh trăng rất đẹp của đồng quê, thằng tôi có cuộc truyện trò với người tử tù Giêsu ấy và thỉnh thoảng thằng tôi thì thầm tiếng yêu để tập yêu. Đối với thằng tôi, Giêsu không hề chết nhưng thật gần. Giêsu gần đến độ như hơi thở của thằng tôi. Đêm thứ Sáu Thánh đó, thằng tôi hạnh phúc vô cùng. Nó như được tan biến ra trong mọi sự. Cái kinh nghiệm được hiện diện trong tất cả mọi sự, trong vũ trụ vạn vật và rất gần con người là điểm khởi đầu của một hành trình vô định. Song song với niềm hạnh phúc ấy, dường như có một điều gì đó làm mọi sự trở nên khăn hơn nhiều. Một thời gian không lâu sau cuộc truyện trò đó, một người bạn thân của thời thơ ấu qua đời. Qua cái chết này, thằng tôi nhận ra sự khó khăn nhất để vượt qua chính là sự xa cách tột cùng của kiếp người. Hai kinh nghiệm “hạnh phúc” và “đau khổ” trong cuộc sống của thằng tôi dường như bắt đầu và có một ranh giới vô hình, rất mong manh giữa hạnh phúc và đau khổ trên con đường lữ hành mà thằng tôi đang chập chững bước vào. Trên con đường đó, thằng tôi cứ bước đi, vấp ngã nhiều, đứng lên nhiều, rồi lại vấp ngã. Nước mắt rơi nhiều, nhưng đều là của cả hai. Những giọt nước mắt hạnh phúc vì được yêu và những giọt nước mắt đau khổ cứ quyện vào nhau làm cho thằng tôi không nhận ra được cái ranh giới mong manh của những chọn lựa của thời thơ ấu. Nhưng cũng cùng lúc ấy, thằng tôi chỉ biết có lúc nó rất gần vũ trụ vạn vật và mọi người, và đôi khi, nó xa cách với tất cả đến độ không còn gì hiện hữu nữa; và đau khổ hơn là chính sự xá cách với chính sự hiện hữu của nó nữa. Cái đêm của thứ Sáu Thánh năm ấy vẽ nên một ranh giới mong manh giữa hạnh phúc và đau khổ. Ranh giới ấy đánh dấu vào ký ức thằng tôi một cái gì đó không thể xoá nhoà.

Điều làm thằng tôi luyến tiếc nhất là mất cái chỗ nó ngồi trong đêm thứ Sáu Thánh ấy. Một tảng đá ong khá bằng phẳng được đống rơm phủ hơn một nữa chỉ vừa một chỗ ngồi duy nhất lại trở thành nơi thân thương đáng nhớ không tả được. Cái tảng đá ong đó thành điểm hẹn mỗi ngày. Ngồi trên tảng đá, dựa cái vai vào đống rơm, hai tay cứ lần lượt rút một cọng rơm cho đến khi nó căng ra vì đầu bên kia được đan xen với những cọng rơm khác. Thằng tôi thích quấn cọng rơm ấy vào ngón tay và dựt mạnh một cái để lấy cọng rơm đó ra vuốt đi vuốt lại cho thằng. Không biết là có bao nhiêu đêm ngồi ở chỗ ấy, rút rất thong thả cọng rơm và hát vu vơ một mình. Và cũng chỉ chỗ ấy, thỉng thoàng thằng tôi nghe được một tiếng hát ở đâu đó, rất du dương và giai điệu rất rõ và nhẹ êm. Cái thói quen rút rơm làm cho đống rơm có một lỗ hổng nhỏ vừa bàn tay. Thằng tôi lấy những cọng rơm thẳng được rút ra, đan chúng vào nhau như ông ngoại dạy đan ổ rơm cho gà đẻ. Nó đặt một hòn đá tổ ong, nhỏ, lớn hơn hòn sỏi của cái ná một chút nhưng rất sần sùi méo mó vào đó. Thằng tôi lấy rơm che lại như giấu đi cái gì quý giá lắm. Cứ mỗi lần có dịp ra ngồi ở đống rơm, thằng tôi cẩn thận xem thử hòn đá đó còn ở đó hay không. Lúc ấy, nó chẳng biết gì về biểu tượng của hòn đá ấy và cũng chẳng hiểu tại sao cái chỗ  ngồi ấy quan trọng với nó lắm. Được ngồi ở đó, nhìn và đụng chạm vào cục đá đó, thằng tôi cứ thấy cái gì đó làm cho tim thằng tôi rất “thoả mãn” về hương tình của Ai đó và dường như tim nó cứ lớn dần lên với sự thoả mãn ấy, nhất là những đêm có ánh trăng. Trong những lần như thế, nước mắt tràn trề lênh láng vì cái “thoả mãn” trong tim không diễn tả được. Lớn lên một chút và gia đình thay đổi chỗ ở, thằng tôi tiếc ngẩn người vì biết phải xa cái “chỗ ngồi bên đống rơm” và cái “kho tàng của hòn đá nhỏ.”Cái tiếc nuối ngẩn người vì không được ngồi ở chỗ đó nữa đã làm thằng tôi hết sức băn khoăn để chọn lựa là có nên mang “hòn đá nhỏ” theo không. Đối với mọi người, hòn đá nhỏ ấy không là gì cả; nhưng với thằng tôi là cả một kho tàng lớn không có gì có thể thay thế. Cái kinh nghiệm chọn lựa này là một “nỗi đau” lớn vô cùng. Lúc phải đưa ra quyết định, thằng tôi cũng khóc nhiều không kém. Những giọt nước mắt của thoả mãn và những giọt nước mắt của nỗi đau làm cho thằng tôi chợt nhận ra chút gì đó về ranh giới mong manh của việc chiếm giữ và buông bỏ. Dù rất mong manh, nhưng ranh giới ấy cũng rất khó để vượt qua từ chiếm giữ đến buông bỏ. Bài học bước qua cái ranh giới mong manh giữa chiếm giữ và buông bỏ được đặt vào tim của thằng tôi. Nó cố học cho được nhưng dường như thất bại nhiều trên con đường nó đi. Thằng tôi hiểu bài học lắm, nhưng chẳng học sống được bao nhiêu. Để rồi khi lớn dần theo năm tháng, thằng tôi nhận ra ràng cái tình thì nó hiểu nhiều, nhưng nó chưa yêu nhiều.

Sống thêm một tí nữa, thằng tôi bắt đầu yêu nhiều lắm. Yêu lắm cái ánh nắng bình minh soi qua làn sương sớm của xứ lạnh. Yêu cái chân trời xa tít tắp cố giữ lấy mặt trời để làm hồng thêm vũ trụ khi hoàng hồn về. Yêu lắm những cơn mưa đến thật nhanh thắng cả đôi tay đang mở áo mưa và làm ướt sũng cái thân run lên vì lạnh. Yêu lắm con đồi ngọn núi hoà lên điệu vi vu của lá khi ngọn gió thổi qua. Yêu lắm cái mênh mông của trời đủ rộng để mây chơi trốn tìm. Yêu lắm cái nguệch ngoạch của sao băng trong bóng đêm. Yêu lắm những sắc mầu của hoa trộn lẫn với nhau làm mặt đất rực lên như những ngọn lửa đang nhảy múa. Yêu lắm những cú nhảy của thú, những dải cánh của chim, những nhịp vẫy của cá, những róc rách của nước, những gầm thét của bão giông…Thằng tôi yêu tất cả những gì xunh quanh mình vì thấy gì cũng đẹp. Trong cái thế giới đẹp xinh đó, thằng tôi lần đầu biết yêu ai đó vì ai đó làm nó mê mẩn bước theo mà đầu đụng vô cột điện cũng không biết. Cái thế giới này thật lạ, cái gì cũng đẹp và ai ai cũng đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của người làm cho thằng tôi luôn hừng hực và hưng phấn về một cuộc sống được “kết hiệp trọn vẹn.” Có rất nhiều lần  trên đường đi đâu đó hoặc trên đường về nhà, vì không muốn bỏ qua một cơ  hội nào để ngắm cái đẹp, thằng tôi dừng lại mời người xung quanh ngắm nhìn với nó cảnh hoàng hôn, cánh chim bay, bông hoa e ấp nở, hoặc chỉ cho ai đó thấy nắng trên đồi, thấy gió đuổi rượt nhau, thấy sóng rì rào lăn tăn trên hồ, thấy tiếng thở của vũ trụ và ai đó yêu nhau. Thằng tôi thích cái đẹp, luôn ôm nó vào lòng để nâng niu và nên một với nó. Khi kết hiệp với cái đẹp, lòng nó cảm nhận được sự “thánh thiện” khó tả được ban tặng nhưng không cho nó. Những lần như thế, thằng tôi khóc nhiều và đôi khi nước mắt dàn dụa như thác vì phần nào nếm được sự thánh thiện mà nó hằng ước ao. Nhưng cũng không biết bao lần, trước mặt thằng tôi, mọi sự trở nên gớm tởm và xấu xa. Nó thấy cái hiện hữu của nó quá xấu và rồi nó nhìn cái gì cũng xấu và ai ai cũng xấu vì thằng tôi toan tính được thua, vì những lời nói không hay, vì những hành vi bỉ ổi, vì những ngoan cố chiếm hữu, vì những kiêu căng tự phụ, vì những cố tình thị phi và lên án. Thằng tôi nhiều lần kinh nghiệm những lỗi tội làm con mắt nó đùi mù không thấy được cái đẹp, làm cánh tay ngắn lại để tuột sự thánh thiện, làm cho tim nó méo mó đập theo nhịp của cám dỗ, làm đôi chân xụi xuống để không bước nổi qua cái ranh giới mong manh để đến sự kết hợp trọn vẹn. Điều đó làm thằng tôi kinh nghiệm sự “cô đơn tột cùng.” Nước mắt xấu hổ của thằng tôi cũng rơi nhiều không kém. Nó khóc và cúi đầu xin tha thứ và ước mong những dòng nước mắt đó phần nào trả lại cho nói cái ánh mắt của Ai đó trong nó, để nó nhìn cái đẹp trong tất cả.

Cứ mỗi lần kinh nghiệm của đêm thứ Sáu Thánh xa xưa đó, hiện về, thằng tôi muốn gọi tên cái kinh nghiệm đó. Rất nhiều lần và lần nào cũng thế, khó mà có thể gọi chính xác được. Cho mãi đến hôm nay, Tam Nhật Thánh của 2018 theo cách tính của con người, thằng tôi dàn dụa nước mắt của hạnh phúc và đau khổ, của chiếm hữu và buông bỏ, của kết hợp trọn vẹn và cô đơn tột cùng. Khi nhận lời giúp tĩnh tâm cho anh em vào những ngày Thánh này, cái linh cảm báo cho nó biết về sự trở lại của kinh nghiệm đêm thứ Sáu Thánh xa xưa ấy. Thằng tôi sống thật chậm để chờ cái giây phút linh cảm ấy thành sự thật.  Khi giờ đã đến, thằng tôi sống trọn những cảm xúc này trong những ngày được gọi là Thánh. Có gì đó rực sáng lên trong tâm nó, trong đầu nó, và trong cả hiện hữu của nó, báo cho nó biết cái tên của kinh nghiệm đêm thứ Sáu Thánh xa xưa đó là Sự Thánh Thiện và Sự Tội.

Những cảm xúc thuở xưa tràn về. Hạnh phúc và đau khổ có ùa về trong tim nó nhưng không như xưa. Ao ước chiếm hữu và buông bỏ có trói chặt tinh thần và đôi tay nó nhưng không như xưa. Hiện hữu nó đụng được sự kết hợp trọn vẹn nhưng cũng lôi nó đi rất xa trong cô đơn tột cùng nhưng không còn như trước. Thằng tôi ý thức hơn bao giờ hết đến tội của nó ngay từ khi nó có ý thức cho đến giây phút này. Mọi sự thật rõ ràng. Rõ ràng đến không thể nào diễn tả được nữa. Trong sự ý thức đó, thằng tôi thấy rõ vô cùng cái ranh giới mong manh giữa cái chết và sự sống vĩnh cửu. Thằng tôi biết nó phải bước qua ranh giới đó và đi theo hướng nào. Cái lần vượt qua ranh giới này sao khó quá.

Nó tìm đến một linh mục để xin xưng tội. Vị linh mục đó đứng đó trong chiếc áo dài trắng chờ nó đến, cầm tay nó và nó bắt đầu khóc. Thằng tôi lại khóc thật nhiều và nó nghe rất rõ những giọt nước mắt tuôn trào trong tiếng thì thầm của Lòng Thương Xót. Không biết cả hai đứng đó bao lâu, nhưng thằng tôi bước về cái bàn quỳ mà cả thân nó nhừ ra không hiểu nổi. Cái ký ức không thể xoá nhoà hơn 30 năm về trước bây giờ ở ngay đây, trong ngày mà Giáo Hội mừng sinh nhật của chức linh mục. Mọi cảm xúc đều tan biến hết, ngay cả cái tội của thằng tôi, để nhường chỗ cho một Lòng Thương Xót vô hạn và một Tình Yêu khó tả cùng với một lời mời sống lại cái kinh nghiệm được yêu.

Với Lòng Thương Xót và Tình Yêu này, thằng tôi nhận ra rằng ngày nào bây giờ cũng là ngày Thánh với những hạnh phúc và đau khổ của nó. Bất cứ nơi nào cũng là tảng đá ong để nó ngồi dựa và đống rơm lòng để nhìn, để đụng đến cái kho tàng tình ái của hòn đá nhỏ. Bất cứ nơi nào cũng có thể ngụ lại để nghỉ ngơi chiêm ngắm và cũng có thể buông bỏ để lên đường như người lữ hành đi mãi cho đến cái giờ điểm của nó. Lúc này, cái gì trong vũ trụ bao la này cũng đẹp, âm thanh nào trong thế giới này cũng dễ thương. Thế nhưng cái tội của nó có thể làm cho mọi sự trở nên ghê tởm. Nhận ra cái ranh giới mong manh giữa tội lỗi và thánh thiện, giữa cái chết và sự sống vĩnh cửu là một bài học của người lữ hành. Dù rất mong manh, nhưng ranh giới ấy cũng khó mà vượt qua được nếu không có Lòng Thương Xót và Tình Yêu của Ai đó để cảm xúc được yêu thực sự là điều cuối cùng còn lại để nâng đỡ người lữ hành trong hành trình còn lại. Kinh nghiệm non nớt của hơn 30 năm về trước là khởi đầu của một cuộc tình kiếm một cuộc tình. Kinh nghiệm lần này là điểm khởi đầu của việc giữ mãi một cuộc tình. Trong việc tìm kiếm một cuộc tình và giữ mãi một cuộc tình, cả hai đều có một nền tảng chung là cảm xúc được yêu thương bởi Ai đó và tập yêu Ai đó hết mình. Trên nền tảng đó, không có gì khác ngoài Lòng Thương Xót, và đối với con mắt của người được yêu, có rất nhiều cái ranh giới mong manh cần được vượt qua để cái lòng của nó không có gì ngoài lòng thương xót, trái tim của nó không có gì ngoài cái tình, hiện hữu của nó không có gì ngoài sự tha thứ.

Đã có rất nhiều cuộc vượt qua theo khuôn mẫu của một cuộc Vượt Qua vĩ đại của người tình Giêsu. Người tình này đã sống cảm xúc được Cha yêu đến tận cùng, và trong khi sống cảm xúc ấy, Giêsu đã để lại khuôn mẫu duy nhất cho bất cứ ai muốn trở nên một người tình. Mỗi ngày mới được sống trong cảm xúc được yêu thật tuyệt vời, nhưng từng giây trong mỗi ngày mới ấy là sự cố gắng vượt qua tội lỗi để vươn tới sự thánh thiện trong nơi sâu thẳm nhất của nội tâm. Trở nên một người tình đích thực và đúng nghĩa với cảm xúc được yêu, ai đó luôn phải vượt qua cái ranh giới mong manh ấy để bước đi mãi như một người lữ hành. Ôi Con Đường Kitô Giáo, con đường trở nên người tình lữ hành.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sống Ngoài Thời Gian

Là một linh mục của Giáo Hội Công Giáo Rôma, thằng tôi đang chuẩn bị bước vào những cử hành phụng vụ và sống lại  kinh nghiệm của Giêsu trong ba ngày quan trọng nhất trong năm: Tam Nhật Thánh. Dù là ba ngày theo cách tính của nhân gian, nhưng Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy Tuần Thánh chỉ là một trong cử hành phụng vụ. Những cử hành nơi không gian trần thế và thời gian của lịch sử trong ba ngày này là những “hành động Thiên Chúa làm cho người Ngài yêu.” Mục đích của những hành động của người yêu dành cho một ngươi yêu là để cả hai cùng kết hợp trọn vẹn với nhau. Sự hiệp thông và kết hợp trọn vẹn này là ước muốn thật thẳm sâu trong cõi lòng của con người. Kinh nghiệm này được Giêsu “cử hành” trong thời gian và cũng là kinh nghiệm Giêsu có từ muôn thủa như là Ngôi Lời của Cha. Giêsu đã sống và đã cử hành khao khát hiệp thông này để dạy và chỉ cho con người rằng con người, dù tội lỗi với muôn vàn yếu đuối, vẫn có thể bước vào sự hiệp thông trọn vẹn với Thượng Đế Vĩnh Cửu. Giêsu dạy con người trong không gian và thời gian sống đời vĩnh cửu ngay ở trần thế này. Giêsu tập cho con người sống ngoài thời gian của mình bằng cách trở thành Con Đường cho con người bước qua, là Sự Thật cho con người khao khát và  là Sự Sống cho con người chiêm ngắm. 

Những cử hành của Giêsu trong Tam Nhật Thánh là kinh nghiệm của một con người sống trọn những gì là người nhất. Những kinh nghiệm của Giêsu trong Tam Nhật Thánh là tình yêu của một khao khát có được sự hiệp thông trọn vẹn nhất. Sự hiệp thông trọn vẹn nhất với Nguồn Cội là điều tốt đẹp nhất có thể trong cuộc sống.

Thứ Năm Thánh – Ngày Tự Do. Một kinh nghiệm người nhất!
Không gì có thể diễn tả được tự do của Giêsu. Không gì có thể níu kéo Giêsu lại. Giêsu lang thang khắp chốn để dong dủi đường gió bụi đến độ không nơi tựa đầu. Giêsu sống nhẹ nhàng tựa tơ hồng vì chẳng gì có thể níu kéo Giêsu được, ngay cả bạc tiền chức vị. Giêsu sống cái thênh thang nhàn nhã của một con người tự do đích thực đến độ chả có lề luật nào trói được Giêsu. Giêsu buông bỏ mọi sự để sống cho một tự do như hạnh phúc đích thực đến độ chẳng có khao khát quyền lực nào xấm chiếm nổi, không đảng phái chính trị nào có thể để lại vết dính nào nơi  tinh thần và hành động trong từng ngày sống của kiếp nhân sinh đến độ tuyên bố chẳng nơi nào ở trần thế này Giêsu gọi là quê hương (Nước tôi không thuộc về thế gian này). Giêsu sống chậm rãi và bình thản đối diện những nỗi sợ hãi làm tê cứng những nỗ lực vươn lên và tăng dần những lực cản dập vùi con người xuống hố sâu tuyệt vọng. Giêsu sống cái tình bạn đậm sâu nhất và chan hoà với tất cả đến độ tứ hải giai huynh đệ và ai ai cũng có thể trở thành anh chị em, thành ruột thịt, thành mẹ, thành chị, thành thân bằng quyến thuộc của mình; nhưng cũng chẳng lệ thuộc bất cứ ai.

Giêsu đã đi một chặng đường dài hơn 30 năm ở trần thế để trở thành chính con đường trở về vĩnh cửu. Chặng đường từ việc vâng lời Cha làm người đến vâng ý Cha làm của lễ. Giêsu sống tự do hơn từng ngày để cứu nhân tình thê thái khỏi sự nô lệ của chính họ trong những bất tuân ngông cuồng và những tư tưởng riêng tư thiển cận và nhỏ nhen. Kinh nghiệm làm người tự do của Giêsu đã thành một khuôn mẫu không thể thay thế bằng cách khiêm tốn nhất có thể trước Cha, và nhận ra ý Cha trổi vượt hơn bội phần trước cái hay nhất có thể của chính mình. Giêsu tự do ra đi không mảy may tiếc nuối với việc cần phải có mặt mình, phải có việc của mình để cứu lấy những gì là hư hỏng, lỗi tội hay chết chóc mà chúng luôn song hành mạnh mẽ trong từng nhịp sống của hình ảnh thánh thiêng làm nên những gì là người nhất.

Trong ngày linh thiêng này, Giêsu ngồi ăn bữa cuối với đệ tử mình để nói lên điều duy nhất Giêsu muốn để lại. Cái dấu của điều duy nhất ấy là việc Giêsu rửa chân cho đệ tử mình. Trong giây phút linh thiêng của bữa cơm cuối, Giêsu nói đệ tử mình cầm lấy thầy mình mà ăn, mà uống bằng cách bẻ máu thịt mình. Cái dấu rửa chân cho nhau ấy và cái hành động bẻ bánh cuộc đời ấy là cách Giêsu đụng chạm đến tất cả, để tan biến trong tất cả, để vượt ra khỏi giới hạn của không gian và thời gian. Đây là cách Giêsu chỉ để làm người tự do. Con người chẳng còn phải đi đâu xa để tìm cái kinh nghiệm người nhất. Hãy cần ngắm nhìn Giêsu thật nhiều và làm như Giêsu thật nhiều, nhân loại sẽ kinh nghiệm được cái tự do lắm bằng cách dọn ra những bữa cơm huynh đệ. Nơi bữa ăn này, cái giây phút linh thiêng làm cho con người trở nên tự do nhất là lúc lột bỏ tấm áo kiêu căng của cuộc sống để mà rửa những vết thương lòng hôi thúi của nhau, là lúc bẻ nát cuộc đời và thủ thỉ với người bên cạnh rằng cầm lấy đời tôi đây mà nhai, cầm lấy đời tôi đây mà uống. Sau Giêsu, một ngày tự do của ai đó chính là ngày thánh mà trong ngày đó, ai đó rửa cuộc đời ai đó và ôm cái hôi thúi của ai đó vào lòng để hôn lấy hôn để. Sau Giêsu, kinh nghiệm người nhất của ai đó chính là lúc rất thánh mà lúc đó, cuộc đời của ai đó được bẻ ra như lế tế để ai đó cầm lấy mà ăn mà uống. Thằng tôi ơi, ráng sống thật tự do, ráng có cái kinh nghiệm thật người của Giêsu. Thằng tôi ơi, hãy bước vào Con Đường Giêsu.

Thứ Sáu Thánh – Ngày Tuyệt Đẹp. Một không gian của hiệp thông trọn vẹn nhất!
Không gì có thể diễn tả được cái đẹp của Giêsu. Cái đẹp nhất chính là cái đơn giản nhất. Không gì đơn giản hơn thanh gỗ xù xì, không cần được gọt bào cho dễ coi, được dựng nên trên ngọn đồi cằn cỗi với những đá dăm. Không gì đơn giản hơn trên thân gỗ xù xì ấy là một thân thể tan nát với đòn roi mà không cần che đậy, một con người phủ đầy kín máu me của những thương tích mà không cần phải giấu diếm, một thanh niên im lìm bất động làm cả vũ trụ ngạc nhiên trong tiếng thì thào tha thứ mà không cần đáp trả những thách thức của quyền lực và bạo hành.

Cái chết của Giêsu đã trở nên cái Đẹp long lanh trong mắt ai ngắm nhìn. Người cùng thời, ai cũng biết Giêsu quyền năng hoá bánh ra nhiều, chữa lành người cùi và bệnh tật, đứng về phía người nghèo để họ không một mình, bước trên mặt nước, làm chủ thiên nhiên và làm cho người chết sống lại; thế nhưng sao lại không cho người khác tôn mình là vua, sao lại không lợi dụng thời cuộc để thăng quan tiến chức, sao lại không hoành tráng vung tay quyền uy làm cho dân chúng run rẩy khiếp sợ để ca tụng, sao lại không bẻ cổ những kẻ mạnh miệng vu khống cáo gian cho bàn quan thiên hạ khúm núm lạy lục. Giêsu có thể thoát cái chết ghê tởm ấy, nhưng Giêsu chọn nó vì nó là cái chết đẹp nhất để diễn tả cái Đẹp vĩnh cửu.

Trong không gian tuyệt đẹp này, nhân loại không thấy gì nên cũng chẳng ngắm được gì. Con người không cảm nhận gì ngoài sự ác độc và đau đớn. Lịch sử không ghi lại được gì ngoài sự toan tính bạo tàn và những hành vi dữ tợn của cả một thế hệ và dòng dõi tà tâm nối tiếp nhau. Con người không thấy gì vì không còn tử tế với nhau được nữa. Cả nhân loại vũ trụ không thấy gì nữa trong những gian lận bất công của quyền lực và ý thức hệ. Con người không cảm được gì nữa vì chẳng còn hiểu nổi tiếng lương tâm ngay thẳng trước những sĩ diện hão huyền của bằng cấp, đẳng cấp, danh dự bên ngoài với những lời mộng mị mà ai ai cũng biết là giả tạo. Lịch sử không còn hổ thẹn nữa khi vun trồng dối trá và dùng mưu mô của luồn cúi để đầu độc lòng trắc ẩn và cô lập tình liên đới đến độ mọi người và mọi vật trở nên cô đơn như những hòn đá lạnh lùng không hồn bước qua lại bên nhau theo nhịp nhảy của thần chết.

Đơn giản là Giêsu yêu và chỉ có yêu thôi. Giêsu yêu đến tận cùng và chỉ muốn trung thành với tình yêu mà không cần đến những câu trả lời cho câu hỏi “sao Chúa bỏ con?”. Giêsu yêu thẳm sâu và chỉ muốn chết đẹp vì sự tha thứ tuyệt đối cho tất cả, từ những kẻ vô tình cho đến những kẻ giả ngu cố tình không biết là Thượng Đế yêu thương họ. Giêsu yêu mãi và làm cho mọi sự thăng hoa bay bổng vào một không gian đẹp như chính Ngài đã được “nâng cao lên khỏi đất” chứ không chấp nhận một tình yêu tà tà dưới mặt đất với muôn vàn tội lỗi, sân si, gian dối và tham lam vô độ.

Hãy ngắm nhìn thập giá của Giêsu để thấy phận mình trong phận Giêsu, để thấy đời mình đẹp với cái chết của Giêsu, để mà tập chết cho ra hồn, chết cho đẹp, chết cho thanh cao nhẹ nhàng, chết cho thứ tha tuôn đổ dư tràn. Hãy ngắm nhìn thập giá của Giêsu để thấy tội của mình và để cảm cái tình của Giêsu, để mà học yêu và chỉ học yêu mà thôi cho đến khi từng thớ thịt, từng giọt máu, từng hơi thở của thằng tôi thấm ngập cái tình Giêsu. Hãy ngắm nhìn thập giá của Giêsu để  được gội rửa trong máu và nước của Giêsu, để được sạch sau hành trình sa mạc cuộc đời, để giũ sạch những bám víu trần tục và không còn ai ca tụng khổ đau va dung túng những tội ác nữa. Tình yêu trọn vẹn làm nên một không gian tuyệt đẹp cho dù xunh quanh đó có là gì đi nữa. Sự tha thứ tuyệt đối làm nên một cái chết mỹ miều cho dù xác thân có thương tích máu me và biến dạng đến cỡ nào đi nữa. Chỉ có ai cúi đầu khiêm tốn đủ để con mắt tâm hồn dẫn lối bước vào không gian tuyệt đẹp đó. Chỉ ai đó hiền lành đủ để trái tim rộng mở ôm lấy cái chết tuyệt đẹp vì tình thương mến thương tất cả. Thằng tôi tập cúi đầu thêm để cảm nhận cái tình Giêsu để tập bước vào cái không gian đẹp ấy. Thằng tôi tập cơi nới con tim mình thêm nữa để có đủ chỗ cho nhiều người hơn nữa hầu có được một sự hiệp thông trọn vẹn hơn. Từ khi Giêsu được treo trên cây thập giá xù xì ấy, bất cứ một không gian nào mà nơi đó, ai đó đã yêu thêm ai đó và thủ thỉ lời tha thứ cho ai đó để biến cái không gian đó thành thánh vì có sự kết hợp trọn vẹn với cội nguồn của yêu thương và tha thứ. Thằng tôi ơi hãy dành giờ thật nhiều để nhìn thập giá mà khám phá ra tình yêu đích thực. Thằng tôi ơi hãy tập tha thứ thật nhiều để tạo nên cái đẹp của cuộc đời.

Thứ Bẩy Thánh – Ngày Tốt Lành. Một đời sống mới viên mãn!
Không gì có thể diễn tả được sự thinh lặng tuyệt đối của hôm nay. Sự thinh lặng tuyệt đối để tất cả cùng nghe được nhịp thở của Sự Sống Mới. Sự thinh lặng làm cho tiếng thì thầm của tạo dựng mới vút lên thật nhanh, thật mạnh, thật sáng láng đến độ không gì có thể kìm hãm nổi, cho dù đó là cái chết của kiếp người. Trong ngày này, cái thân xác bôn ba khắp chốn trở nên bất động trong lòng mộ. Ngôi Lời tạo dựng từ thưở ban đầu lui vào thinh lặng để nghe rõ hơn tiếng thở của Cha và chạm đến sự sống của Cha.

Không gì có thể diễn tả được vinh quang tột cùng của ánh sáng. Mọi sự trở nên rõ ràng và minh thông trong tất cả, để rồi từ đó, sự tốt lành thiện hảo bước ra từ ánh sáng làm cho tạo vật nhảy múa vũ điệu của Sự Sống Mới, Alleluia. Ánh Sáng của Tốt Lành thiện hảo cứ thế lan ra và chạm đến mọi ngóc ngách của vũ trụ bao la và tràn vào mọi hang cùng ngõ hẻm của những hiện hữu ngay cả ở những tận cùng của tối tăm không đáy.

Trong thinh lặng của nấm mồ, thân xác Giêsu được biến đổi nên sáng láng không gì tả được. Thân xác bất động trong ngôi mộ ấy giờ đây bàng bạc khắp chốn vì mầm sống mới như tia sáng lan toả, vượt qua và vượt lên những khối u lì nặng trĩu của lỗi tội. Mầm sống mới từ Cha đã nâng Thân xác ấy lên trong vinh quang ánh sáng nhanh đến độ cái tích tắc phục sinh trở thành bí mật khôn dò của sự Thiện hảo. Sự Tốt lành thiện hảo mà Cha dành cho con mình chính là Sự Sống Mới. Món quà ấy cũng được trao cho nhân loại và vũ trụ bao la. Sự thiện hảo ấy làm Maria Magdalen, Simon Phêrô, môn đệ Chúa yêu, hai người môn đệ về quê Emmaus ở ẩn, và người người lớp lớp của mọi thế hệ  bừng lên hy vọng và bắt đầu sống sự sống mới bằng tinh thần tự do, trái tim đẹp và  sự thật của phục sinh. Sự thiện hảo sẽ biến đổi con người và vũ trụ này từ tận gốc rễ.

Đích thực của Kitô giáo là đây! Đích thực của cử hành thánh là đây: là đổi mới tâm hồn, đổi mới trí óc, đổi mới cuộc đời theo sự tự do đích thực, theo cái đẹp đích thực và theo sự thiện hảo tròn đầy. Từ khi Ánh Sáng Thiện Hảo bừng lên từ ngôi mộ, sống thánh là sống biến đổi từng ngày, dù đó là những quyết định trong thinh lặng của cõi lòng. Từ khi Ánh Sáng Thiện Hảo bừng lên từ ngôi mộ, sống thánh là để cho ánh sáng thiện hảo ấy bao trùm lấy hiện hữu của mình và biến chính hiện hữu ấy thành “đại lý” của ánh áng.

Tam Nhật Thánh là những cử hành trong không gian và thời gian nhất định của lịch sử để cho người cử hành có kinh nghiệm thực và sống thực bên ngoài thời gian và không lệ thuộc vào không gian. Tam Nhật Thánh vì nó làm nên thánh tất cả những gì liên quan đến nó. Tam Nhật Thánh sẽ mãi là đỉnh cao của một hội ngộ giữa Thượng Đế và con người. Giêsu là người đầu tiên cử hành Tam Nhật Thánh và tiếp tục cử hành với tất cả những ai muốn nên thánh. Khi tuyên bố mình là Đường, là Thật và là Sự Sống, Giêsu đã sống một cuộc sống tự do trọn vẹn, trong cái đẹp tuyệt đối, và trong sự thiện hảo viên mãn. Trong sự tự do, cái đẹp và cái thiện hảo ấy, sự vĩnh hằng biến thành giới hạn để những giới hạn bước vào vĩnh cửu. Hoá ra, giữa trần gian cát bụi này, có một nơi mà “tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy” để bất cứ ai muốn sống  kinh nghiệm ngoài không gian và thời gian đều có thể bước vào. Không gian ấy là thánh, thời gian ấy là Giêsu-Alpha và Ômega và tất cả còn lại chính là việc chấp nhận cử hành Tam Nhật Thánh ấy trong từng giây phút của cuộc đời.

Thằng tôi ơi, hãy luôn nhớ rằng từng phút trôi qua trong đời là từng phút của Tam Nhật Thánh.
Thằng tôi ơi, muốn có kinh nghiệm sống ngoài không gian và thời gian ư? Hãy cử hành Tam Nhật Thánh từng giây từng phút nhé.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ước Vọng An Bình

Tác giả dùng từ ước-vọng ở đây là một động từ kép của hai động từ: ước mơ và hy vọng.

Đúng ba tháng trước vào ngày lập Đông, ngày 21 tháng Mười Hai, thằng tôi có một lịch trình mới vì những công việc mới và những cái hẹn mới. Tự nhủ với lòng mình là sẽ tiếp tục viết nhật ký của người lữ hành, nhưng chỉ cho riêng mình mà thôi cho đến ngày thấy được ông Mặt Trời sớm hơn và chia tay ông muộn hơn. Hôm nay, ngày 21 tháng Ba, ngày đầu của mùa Xuân theo con lịch, thằng tôi ngồi lật lại những dòng chữ viết xuống để lọc lại và chia sẻ với  cả nhà theo như lời nó hứa với riêng mình cách đây ba tháng.

Con chữ đầu tiên được viết xuống trong ba tháng trước là “ước mơ.” Thằng tôi ước mơ nhiều và nghĩ nhiều đến một sự an bình nhẹ nhàng thôi. Ước mơ được đi lại những con đường mòn thân quen của tuổi thơ ấu. Ước mơ được ngồi hơ lửa bên cái chòi bếp sau khi đi tắm mưa để toàn thân mình được ám vào cái mùi khói rơm của quê lúa. Ước mơ được đi câu cá rô trong ruộng lúa sau nhà, được đánh dậm bắt cua ở cái bào rau muống, được nhảy từ hòn đá tổ ong này qua hòn đá khác của cái nắng chang chang trên rẫy. Ước mơ được được hái lá dâu  thuê trong mùa con tằm ăn rỗi ở bờ rào. Ước mơ được tắm heo để nghịch nước. Ước mơ được ăn vụng cục đường mía của bà dành để làm nước màu kho cá. Ước mơ được dành miếng cơm cháy với ông để nhai rộp rạp trong miệng. Ước mơ bà la mắng như xưa vì rút vành nón của bà để làm con diều. Ước mơ ông đánh đòn vì chặt cây ổi xá lị của ông để đẽo cù. Ước mơ được đi lấy trấu về cho nhà nhóm lửa.  Ước mơ nối tiếp ước mơ tràn về rõ mồn một theo từng năm tháng từ khi thằng tôi có thể nhớ được cho đến tận bây giờ. Tuổi thơ ấu ở tiểu học với vui buồn sướng khổ qua rồi. Thời thiếu niên bồng bột với những cái ngu dại xa rời thực tế của cấp hai cũng qua rồi. Thời trung học với những lý tưởng về cuộc sống sai nhiều hơn đúng cũng đã qua rồi. Không hiểu tại sao nhớ quá và bây giờ chỉ còn là ước mơ.

Rồi cũng từ ngày này ba tháng trước, mỗi ngày trôi qua với những trách nhiệm cần phải làm tròn và cuốn lịch hẹn cứ kín dần lên. Trong những cái gạch ngang dọc của cuốn sổ có thêm từ “hy vọng.” Thằng tôi hy vọng nhiều và nghĩ nhiều đến một sự an bình cũng nhẹ nhàng thôi. Hy vọng được ngắm nhìn hơn nữa cái đẹp của thiên nhiên trong sự tuần hoàn của thời tiết. Hy vọng được ngồi lâu hơn nữa để không làm gì và cũng chả nghĩ suy gì trong nhà nguyện. Hy vọng gần hơn với hơi thở và nhịp tim của Giêsu hơn trong thánh lễ mỗi ngày. Hy vọng được xong việc sớm hơn để đi bộ tập thể dục. Hy vọng được ăn uống những gì mình thích. Hy vọng được mọi người hiểu hơn khi thằng tôi chọn cách giao tiếp với mọi người một cách thụ động hơn. Hy vọng không nghe tiếng điện thoại nhiều quá và không ai trách khi để hẳn điện thoại thật xa. Hy vọng không nghe tiếng gõ cửa và tiếng xe cứu thương giữa đêm khuya. Hy vọng được nghỉ ngơi hơn một chút vào ngày hôm sau của cái hẹn định kỳ hằng tuần. Hy vọng nối tiếp hy vọng theo từng ngày và theo tiếng xột soạt cuốn sổ thằng tôi mở ra mỗi ngày để biết phải làm gì. Những hàng chữ được gạch ngang khi một ngày trôi qua dù thằng tôi có làm xong hay chưa xong một việc nào đó dù có chút vội vàng và hay lười biếng. Có thêm những tập giấy làm dầy thêm ngăn kéo văn khố hay những tiếng xì xèo của máy cán giấy khi những quyết định đã được đưa ra dù đã nghĩ suy và bàn hỏi thấu đáo hay phải buông lơi vì đứng trước sự việc đã rồi. Không hiểu sao vẫn nghĩ ngợi và hy vọng mọi sự tốt đẹp hơn dù mọi sự việc lúc này chỉ còn là kỷ niệm.

Ba tháng trôi qua với những ước mơ và những hy vọng. Thằng tôi đem cả “ước mơ” và “hy vọng”để ngắm nhìn từ xa. Dường như không có gì xảy ra và thay đổi từ bên ngoài. Cả ước mơ và  hy vọng đều đẹp khi chúng xuất hiện và chúng giữ cho riêng mình những đặc tính của nó.

Ước mơ tiếp tục làm những gì cho thằng tôi lúc này như nó vẫn làm trong ký ức. Ước mơ vẫn âm thầm khơi lên những hình ảnh dường như được lập lại mỗi ngày. Hy vọng cũng vậy, vẫn theo cách thức của riêng mình, ngắm nhìn thằng tôi từ xa và mỉm cười nhẹ nhàng sâu lắng. Cả ước mơ và hy vọng vẫn nhìn nhau đắm đuối trong cách của mình và đưa thằng tôi mãi bồng bềnh với những gì Thượng Đế ban tặng và ngụp lặn trong những khó khăn của quyết định từng ngày. Không cần thêm gì trong những ước mơ thời thơ ấu, không hối tiếc gì trong những quyết định từng ngày với niềm hy vọng, thằng tôi mở con mắt cõi lòng để ngắm nhìn những nét rõ nét mờ trong bài học tuyệt vời về những kiến thức của Thượng Đế, của cuộc đời. Thằng tôi nhận ra có gì thật mỏng manh và vững chãi, thật yếu đuối và dũng mạnh, thật bất lực và quyền năng trong tận thâm tâm cõi lòng nó. Có gì đó tuôn trào từ sự kết hợp trọn vẹn giữa ước mơ và hy vọng mà thằng tôi xin phép được gọi là an bình.

“Ước-vọng an bình” như là danh từ riêng.
Không biết có đúng như thế không, nhưng thằng tôi muốn gọi nói như cái tên của một người bạn. Một người bạn có thể diễn tả những gì xảy ra trong cõi lòng của thằng tôi. Dường như có cái gì đó ngay lúc đầu mà thằng tôi không nghĩ là anh bạn mới ấy có thể dẫn đến một cái đẹp nhẹ nhàng và sâu lắng. Lúc này ngồi nghĩ lại và nhận ra chính cái đẹp nhẹ nhàng sâu lắng ấy lại đưa đường mở lối để thằng tôi và người bạn mới “ước-vọng an bình” được kề bên nhau.

Từng ngày, thằng tôi bắt đầu một ngày mới bằng việc hướng về người bạn. Đôi khi “ước-vọng an bình” ngoảnh đi làm thằng tôi không biết mặt mũi của nó thế nào trong ngày hôm ấy. Và trong lúc ấy, thằng tôi thật khó nở nụ cười. Nó cảm thấy như đứa trẻ bị bỏ rơi hay cảm thấy như đứa học trò bị thầy hiểu lầm là không làm bài tập. Lúc khuôn mặt sụ xuống, anh bạn “ước-vọng an bình” lại nhẹ nhàng vỗ vai và quay đi như đứa trẻ nghịch ngợm bắt người khác vào trò chơi đuổi bắt. Thằng tôi mắc bẫy ông bạn vì “ước-vọng an bình” đã làm thằng tôi cố gắng để ý đến những gì mà nó muốn có được và phải đuổi bắt cho được. Và rất nhiều khi, đó chỉ là những việc làm hết sức nhỏ nhỏ, những hành động chỉ tốn vài ba phút. Anh bạn “ước-vọng an bình” biết rằng với những việc con con trong vài phút ấy đã giúp thằng tôi có được những gì nó đang tìm kiếm.

Từng ngày, khi mặt trời giữa ngọ, anh bạn “ước-vọng an bình” dùng tia nắng nhẹ đôi lúc lướt qua đôi mắt cay xè của thằng tôi vì đã dán mặt vào việc. Thằng tôi chợt nhận ra anh bạn đang trách thằng tôi mải mê việc quá mà quên cả những nghỉ ngơi. Anh bạn mới dẫn thằng tôi bước từng bước nhỏ trong những giây phút ăn uống để không vội vàng mất đi những rạo rực vươn lên từ bên trong như hồi tập làm người lớn. Lúc này, thằng tôi được mặc sức dừng lại với những tư tưởng của “ước-vọng an bình” để bình tâm trở lại những gì đúng với cách sống mà thằng tôi chọn lựa và hài hoà với điều nó phải làm theo yêu cầu. Đôi khi thằng tôi đắm chìm trong “điều kiện sức khoẻ” mà nó đang sống. Thỉnh thoảng, anh bạn “ước-vọng an bình” nhắc cho thằng tôi biết điều kiện này làm cho thằng tôi gắn chặt với anh bạn mới nhiều hơn.  Đôi lúc anh bạn có vẻ buồn và không thích lắm vì xuất hiện trong điều kiện này. Tuy nhiên, cả thằng tôi và anh bạn đều hiểu rằng chính điều kiện này được dùng như một cơ hội để ai đó có đủ can đảm để hiểu hơn những chọn lựa và hy vọng là những chọn lựa đó sẽ mở một lối đi mới cho một hành trình mới mà hướng dẫn viên của hành trình mới này là con tim chứ không phải cái đầu, là tình yêu chứ không phải những lập luận đúng sai hay được thua.

Từng ngày, khi mặt trời thay áo ngủ, anh bạn “ước-vọng an bình” ngồi trong chiếc ghế bành nhâm nhi ly trà trong im lặng. Mắt lòng nhìn về cõi xa lắm và chậm rãi buông lời cám ơn và xin lỗi với Thượng Đế và với mọi người. Anh bạn nói với thằng tôi rằng đó là cách mà “ước-vọng an bình” giữ lại một ngày và lập lại những quyết định quan trọng như một người trưởng thành. Cũng từ ba tháng nay, thằng tôi ngồi vào chiếc ghế bành bên cạnh anh bạn để học bài học giữ lại một ngày cho mình như anh ấy.

Cứ như thế, từng ngày trôi qua và đã là ba tháng rồi. Thằng tôi và anh bạn “ước-vọng an bình” sống bên nhau, đi bộ thể dục với nhau, nằm dài trên bông tuyết mới với nhau, ăn uống cùng nhau, đọc thơ cho nhau nghe, cùng nhau xem những bức tranh và nhìn nhau trong những buổi hoà nhạc. Có những ngày thật đẹp và cũng có những ngày không đẹp. Có những ngày thật tốt và cũng có những ngày không tốt chút nào. Cho dù ngày đó thế nào, thằng tôi cứ sống và mong là ngày dài thêm khi có anh bạn “ước-vọng an bình” ở cùng. Khó có thể gọi nó là “an bình,” nhưng cũng không biết gọi gì vì kỷ niệm với anh bạn này là “an bình” thực sự.

“Ước-vọng an bình” như là một động từ.
Một ngày mới bắt đầu và ai ai đó cũng bận rộn với nhưng kế hoạch và lịch làm việc của một ngày. Từ ba tháng nay, hình ảnh của thằng tôi về một ngày bận rộn được đổi dần. Có lẽ nó đi chậm lại, ít nói hơn, và khuôn mặt cứ đơ đơ làm sao ấy cho dù nó có vẻ tự tin hơn trong công việc, cho dù nó có vẻ hạnh phúc nhiều hơn và cho dù nó có vẻ cúi xuống nhiều hơn để lau nước mắt hơn là phản ứng lại bằng lời nói. Anh bạn mới tập cho nó phải làm một điều trước khi vào bàn làm việc là chấp nhận thêm một việc mới: đó là chấp nhận rằng có nhiều thứ nó không thay đổi được và có một vài điều nho nhỏ nó thay đổi được. Mỗi ngày, anh bạn mới đặt lên bàn làm việc của thằng tôi một tờ giấy nhỏ ghi việc phải làm: “ước-vọng an bình”

Mỗi ngày, hoàn tất “ước-vọng an bình” như là một nhân tố mới để làm cho hạnh phúc của thằng tôi ít lệ thuộc hơn vào những yếu tố bên ngoài. “Ước-vọng an bình” giúp thằng tôi để ý đến mặt trời hơn các khuôn mặt khác mà nó phải làm việc với. “Ước-vọng an bình” giúp thằng tôi lắng nghe tiếng bông tuyết rơi, tiếng hát của gió, tiếng nhạc của mưa, tiếng thì thầm của nắng. Những tiếng này vượt lên trên những rên rỉ của gìa nua và số phận. “Ước-vọng an bình” giúp thằng tôi an toàn hơn giữa những bề bộn của hiện tại vì nó có đôi cánh của ước mơ và hy vọng để bay cao hơn những khó khăn của công việc và bệnh tật. “Ước-vọng an bình” giúp thằng tôi ngắm nhìn được thật nhiều sắc mầu của cuộc sống trong những u ám tối tăm của bệnh tật, của sân si, của hận thù, của bất công… Mọi sự của thế giới này vẫn vậy, nhưng trước khi bước vào những sự ấy, thằng tôi giờ đây biết là nó phải hoàn tất phần bài tập mà “ước-vọng an bình” trao cho mỗi lần thức dậy. Bài tập khó lắm, nhưng có lẽ xứng đáng để làm và hoàn thành trước khi bước vào một ngày mới. Để từ đó, thằng tôi biết mình đang sống và có nhiều điều để ăn mừng, để chia sẻ về một niềm hạnh phúc lớn lao hơn nó nghĩ. Điều cuối cùng còn lại sau khi đã hoàn thành bài tâp của “Ước-vọng an bình” chính tình yêu đích thực với tất cả, cho dù tình yêu ấy có nhỏ nhoi và vội vã như tia nắng hoàng hôn chợt làm sáng cả chân trời để rồi tắt vội nhường  chỗ cho màn đêm.

Đúng ba tháng sống với anh bạn mới có tên “Ước-vọng an bình.”
Đúng ba tháng tập hoàn thành bài tập mà “Ước-vọng an bình” đưa ra. Thằng tôi khoẻ dần lên với những giây phút có được của ngày sống. Thằng tôi mất nhiều và chẳng còn gì ngoài hạnh phúc lớn dần lên từng ngày. Thằng tôi có thể gầy đi hay mập hơn, áo quần xộc xệch xuề xoà hơn trước. Thằng tôi cũng chẳng còn phải ý tứ nhiều hơn trước để được lòng mọi người. Thằng tôi cũng chẳng lao vào những sự kiện hoành tráng để ai đó biết mình. Trong giây phút ngồi ngẫm lại những gì đã qua trong ba tháng qua, thằng tôi biết rõ rằng sức khoẻ cùng hanh phúc và những giá trị người khác trao cho nó là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Làm sao biết được gì mất gì, nhưng thằng tôi đã rất hài lòng về sức khoẻ cùng với niềm hạnh phúc mà “Ước-vọng an bình” đem lại.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?