Hành Trình Tháng Mười Một Đáng Nhớ – 3

Trạm dừng số ba – Đọc “The City of God1– Thành Đô Thiên Chúa” của thánh Âutinh.

Ngày Cựu Chiến Binh (Veteran Day) năm 2020 rơi vào giữa tuần, thứ Tư ngày 11 tháng Mười Một, thằng tôi có một hành trình rất gần mà cũng rất xa. Gần vì nó chỉ cần lái xe khoảng một giờ đồng hồ tới nơi nó phải đến. Xa vì nó phải ký vài giấy tờ để công việc được thực hiện trong hai ngày trước cuối tuần. Công việc này có thể là một khởi đầu mới và cũng có thể là cái kết trong một sự kiện mà thằng tôi có liên quan. Chuyến đi được lên lịch cả sáu tháng rồi và hành lý chẳng cần có gì nhiều. Trước khi đi, thằng tôi cố ý lấy một tác phẩm của thánh Âutinh để giết thời giờ nhàn rỗi. Tác phẩm này được chọn một cách cố ý chỉ vì công việc vô tình rơi vào tháng Mười Một của chu kỳ bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ2. Đọc lại tác phẩm Thành Đô Thiên Chúa lần này, thằng tôi muốn hiểu thêm về thời cuộc, muốn tìm câu trả lời cho riêng nó trong thời cuộc nhiễu nhương và bất ổn để có sự an bình nội tâm đích thực.

Âutinh sống trong xã hội với quyền bính tối thượng của Hoàng Đế và hệ thống luật lệ của nền văn hoá Hy-La. Các tôn giáo (đa thần) trong xã hội phát xuất từ những thần thoại Hylạp, cộng thêm với Ấn Giáo và Phật Giáo ở phương Đông. Khi thành Rôma sụp đổ, mọi sự đổ lên đầu Kitô hữu và Kitô giáo vì sự hiện diện và việc tôn thờ độc thần của họ làm các thần nổi giận khiến thế giới đảo điên, đau khổ và sự dữ lên ngôi. 

Âutinh viết tác phẩm này khi chứng kiến thành Rôma (410) và Đế Quốc Rôma sụp đổ. Cuốn sách được chia ra hai phần khá rõ rệt. Phần đầu, Âutinh muốn trả lời cho những ai đổ tội cho người Kitô hữu (và cả Kitô Giáo) có trách nhiệm về sự sụp đổ của Đế Quốc Rôma. Âutinh dùng kiến thức Kitô Giáo và lý luận triết học để phản bác lại những tố cáo này, đồng thời chỉ ra rằng, triết học Kitô Giáo xây dựng con người và một thành trì vững chắc hơn nhiều, dù thành Rôma được mệnh danh là “thành phố vĩnh cửu – the eternal city” thủ đô của Đế Quốc đang dần sụp đổ. Âutinh dùng mục đích của triết học để dẫn mọi người đến một câu hỏi căn bản không thể né tránh đó là Sự Ác (Sự Dữ) – Đau Khổ. Độc đáo hơn, Âutinh buộc từng người phải đưa ra câu trả lời cho vấn đề này trên mọi lãnh vực cuộc sống, bao gồm cả chính quyền, mô hình chính trị, quy chuẩn lề luật, đạo đức,  và cao nhất là tôn giáo. 

Âutinh dùng ngòi bút của mình để đối thoại với những nhà triết học và những tác giả cổ đại viết về tôn giáo (Varro, Plato) để đưa ra mục đích tối thượng của một người là có đời sống đạo đức và hạnh phúc đích thực. Trên phương diện này, Âutinh có vẻ bi quan vì con người luôn có khuynh hướng làm những điều ngược lại, cho dù con người có thể có một hệ thống chính trị và luật pháp hỗ trợ. Giải pháp mà Âutinh đưa ra là chúng ta không nên dành hết nỗ lực để tìm kiếm và xây dựng hạnh phúc dựa những hệ thống chính trị và pháp lý trần thế. Thay vào đó, con đường giải quyết là vâng phục những mệnh lệnh thần linh. Âutinh trả lời cho những người nổi loạn, tàn phá thành Rôma rằng Kitô Giáo là con đường “thật” để xây dựng, đạt đến một lối sống đạo đức và hanh phúc bằng cách quyết định bước vào “Thành Đô Thiên Chúa”. Âutinh mời các nhà triết học áp dụng chính triết học để khám phá chân lý, là chính Thiên Chúa của Kitô Giáo. Âutinh dùng lý trí để suy luận rằng đỉnh cao của triết học là vén bức màn tâm trí cho chúng ta thấy sự thật và sự hạnh phúc vĩnh cửu mà con người hằng mong mỏi. Đối với Âutinh, lý trí và tự do con người không ngược lại với tôn giáo, với Thượng Đế. Lý trí và Thượng Đế không mâu thuẫn nhau, nhưng tỉ lệ thuận với nhau về một lối sống có đạo đức, có nền tảng vững chắc. Lối sống này xây dựng một hạnh phúc đích thực bằng những quyết định đặt trên nền tảng của thế giới thần linh. 

Sự se duyên giữa lý trí và Kitô Giáo làm cho con người thấy rõ hơn ranh giới giữa Thành Đô Thiên Chúa và Thành Đô Trần Thế. Lý trí giúp con người nhận ra đích đến của mình và sự bất lực để đạt được nó. Kitô Giáo, với ân sủng của Thượng Đế, làm cho con người chấp nhận sự giúp đỡ từ Thiên Chúa để bước vào Thành Đô Thiên Chúa, nơi con người sống trong sự hạnh phúc đích thực. Khái niệm ân sủng và thời gian của Kitô Giáo như mũi tên đang bay về thời sau cùng, lúc mà ơn Cứu Độ được ban cho từng con người để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của kiếp nhân  sinh luôn vật lộn với đau khổ và sự dữ. 

Phần hai, Âutinh dẫn chúng ta vào cuộc hành trình của Kinh Thánh, hành trình của “lúc khởi đầu”3 cho đến cuộc phán xét sau cùng và chiến thắng của Sự Thiện4. Đây là quan điểm của Kitô Giáo về hai thành đô. Bước đi cùng với Kinh Thánh, con người nhận ra Thành Đô Trần Thế bắt đầu từ tội của Cain. Từ đó trong suốt lịch sử của con người, Thiên Chúa luôn hướng dẫn lịch sử dù nó có thế nào đi nữa, dù con người dùng tự do của mình phạm thêm nhiều tội lỗi tày trời, dù hệ thống chính trị có tính toán những được thua ngay cả khi dùng những thủ đoạn bẩn thỉu. Thành Đô Trần Thế xây dựng trên tình yêu nhỏ nhoi và ích kỷ, đầy dẫy những khoái lạc vô bổ và lạc thú vật chất, mê mải quyền lực và thủ đoạn chiếm quyền đến độ coi thường danh dự.  

Tự do của con người không làm Thành Đô Thiên Chúa biến mất đi. Đối với Âutinh, Kitô Giáo làm cho những biến cố trong lịch sử con người thêm rõ ràng. Kitô Giáo giúp người công dân trần thế sống trong thế giới thần linh nếu họ muốn. Kitô Giáo làm cho thế giới thần linh vô hình thành hữu hình bằng những nhân đức của những con người hữu hình bằng xương bằng thịt. Sự khao khát và cố gắng tập luyện để sức mạnh tinh thần vượt lên sự biếng nhác của thể xác. Thành Đô Thiên Chúa là nơi mà sự vâng phục thần linh là ánh sáng làm rõ ràng những quyết định thuộc về ánh sáng trước những cám dỗ của bóng tối tự mãn. Nơi mà những người cầm quyền và quần chúng cùng có chung một lợi ích là lợi ích chung để “công lý và bình an hôn nhau âu yếm”. Có một thế giới mà Sự Thiện ngự trị và toả ra hương thơm của sự thánh thiện và nét tinh ròng của lòng bác ái. 

Âutinh khẳng định rằng cả hai thành đô cùng hiện diện trong từng ngày sống, trong từng ngóc ngách và từng công việc của thế giới này. Chiếc chìa khóa để mở được cánh cửa của từng thành đô chính là tình yêu của từng người dành cho nó. Trong suốt tác phẩm, Âutinh không bao giờ dùng Thành Đô Thiên Chúa để đối lập với Thành Đô Con Người vì con người có thể dùng tình yêu của mình để bước vào Thành Đô Thiên Chúa hay Thành Đô Trần Thế. Con người với một tình yêu dứt khoát và mạnh mẽ dành cho thành đô nào, thì nó sẽ bước vào thành đô đó. Khi vâng phục những đòi hỏi của tình yêu nào, thì con người thuộc về thành đô đó. Sự khắc khoải có một đích đến cho tình yêu và đặt nó vào đúng chỗ chính là cuộc chiến giữa Thiện và Ác. Cuộc đấu tranh giữa Sự Thiện (Thành Đô Thiên Chúa) và Sự Ác (Thành Đô Trần Thế) trong lịch sử con người không là một chủ đề mới, nhưng Âutinh đã đặt nền móng cho tư tưởng Phương Tây và làm Kitô Giáo nổi bật trong cuộc chiến này chỉ trong khái niệm Tình Yêu và khái niệm này được diễn giải trong tác phẩm hơn một ngàn trang. “Theo đó, hai thành đô được thiết lập bởi hai tình yêu: thành đô trần thế được thiết lập bởi lòng yêu mến chính mình đến độ khinh miệt Thiên Chúa; thành đô thiên quốc bởi lòng yêu mến Thiên Chúa đến nỗi khinh miệt chính mình.”5

Thằng tôi nằm trong căn phòng nhỏ, gió rít mạnh từng cơn bên ngoài và không biết công việc kết quả ra sao. Bên ngoài, tình hình bầu cử nóng lên từng ngày và không ai biết bao giờ mới xong. Xã hội nó đang chứng kiến sao giống Âutinh mô tả trong sách quá. An bình thằng tôi tìm kiếm sao giống những lời khuyên của Âutinh quá. Thằng tôi tự hỏi là nó đang đặt chiếc chìa khoá tình yêu của nó ở đâu. Nó muốn làm công dân của thành đô nào đây, bỗng nó chợt nhớ lời của thánh Phaolô: “quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Đấng Cứu Chuộc là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (Philip 3:20). Suy nghĩ một chút, thằng tôi nói với chính mình rằng: “không phải là tôi không quan tâm tới thời sự và những diễn tiến của xã hội, không phải là không cố gắng hết sức trong công việc, nhưng tôi biết đặt tình yêu mình ở đâu để an bình ở lại.” Bỗng dưng, có người lay nó dậy để đi về vì thằng tôi ngủ trong suy nghĩ đó từ lúc nào không hay.

Ghi Chú

  1.  St. Augustine, City of God, Harmondsworth, England, Published by Penguin Books, 1972  – Dịch và chú thích bởi Henry Bettenson.Đây là tác phẩm về Triết Học Kitô Giáo. Một tác phẩm rất nổi tiếng của Âutinh và là nền tảng của nền triết học phương Tây. Tác phẩm được viết bằng tiếng Latinh với tựa đề đầy đủ là “De Civitate Dei contra Paganos – tạm dịch là Thành Đô Thiên Chúa chống lại Người Ngoại Giáo.”
  2. Sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ rất sôi nổi theo chu kỳ bốn năm bầu cử tổng thống. Ngoài việc gián tiếp bầu tổng thống, trên phiếu bầu cũng có tên của các ứng cử viên trong Quốc Hội. Quốc Hội được chia thành hai Viện. Thượng Viện (Senate) với 100 Thượng Nghị Sĩ, mỗi bang có hai Thượng Nghĩ Sĩ với nhiệm kỳ sáu năm và cứ hai năm, sẽ có một phần ba thượng nghị sĩ được bầu lại. Hạ Viện (House of Representatives) với 438 Dân Biểu với nhiệm kỳ hai năm. Số Dân Biểu từng tiểu bang sẽ tuỳ theo dân số từng tiểu bang. Ngoài ra, trên phiếu bầu sẽ có những luật lệ riêng của từng tiểu bang được đưa ra để dân bầu. Khi các nơi bầu cử đóng cửa, phiếu bắt đầu được kiểm và thường thì kết quả bầu cử sẽ được công bố ngay trong đêm. Đại dịch Covid-19 làm cho điều kiện bầu cử có nhiều thay đổi, và kết quả của bầu cử tại Hoa Kỳ năm 2020 gây nhiều tranh cãi. Sau hơn một tuần, vẫn chưa có kết quả và dường như có dấu hiệu có nhiều kiện tụng lâu dài.
  3.  Đây là từ đầu tiên của Sách Sáng Thế, cuốn sách đầu tiên của Bộ Kinh thánh.
  4.  Hình ảnh của Sách Khải Huyền. Chiến thắng và Tiệc Cưới của Con Chiên.
  5.  Phỏng dịch từ cuốn XIV, chương 28, 477: “Accordingly, two cities have been formed by two loves: the earthly by the love of self, even to the contempt of God; the heavenly by the love of God, even to the contempt of self.”

Người Lữ Hành

Đêm ngày 16 tháng Mười Một, sau khi trở về cộng đoàn.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hành Trình tháng Mười Một Đáng Nhớ – 2

Trạm dừng số hai – Nghe “Requiem – Bộ Lễ Cầu Hồn”1 cung Rê thứ của Mozart.

Lễ các thánh Nam Nữ, khởi đầu tháng Mười Một và ngày hôm sau, lễ cầu nguyện cho các Tín Hữu Qua Đời theo lịch của Kitô Giáo Rôma. Cái chủ đề của tháng này làm nổi lên sự hiệp thông giữa thế giới thánh thiêng sáng láng và cả vũ trụ chết chóc tối tăm. Cái chủ đề này cũng phần nào tạo một thói quen cho thằng tôi ngay từ bé là trong tháng này, thằng tôi thích và hay hát thánh vịnh 1292 và hầu như chỉ nghe những Bộ Lễ Cầu Hồn nổi tiếng. Cuộc sống thằng tôi trong tháng này cứ như bước qua bước lại làn ranh sống chết vì nó cũng nguyện dâng lễ cầu nguyện cho những người bước qua cuộc đời nó mà nay đã qua thế giới kia. Vào ngày mùng Sáu cùng tháng, nhà dòng có truyền thống dâng lễ cầu nguyện đặc biệt cho các thành viên của nhà dòng đã qua đời. Thêm một chút thói quen của người Việt, thằng tôi này lái xe ra nghĩa trang của nhà dòng để cầu nguyện một chút cho anh em nó.

Làm việc trong điều kiện con COVID vẫn còn làm khó dễ sự đi lại và gặp gỡ của mọi người, thằng tôi thấy mình cần có cái gì đó để neo để kéo nó lại với cuộc sống thực tại bận rộn hàng ngày. Nó quyết định chọn bộ lễ cầu hồn của Mozart để nghe suốt tháng Mười Một đáng nhớ này. Bộ Lễ Cầu Hồn duy nhất, cung Rê thứ là tác phẩm cuối cùng Mozart sáng tác trên giường bệnh và ông chết trước khi nó được hoàn thành. Không thể phủ nhận về nét đẹp của những âm thanh tuyệt vời Mozart dành cho tác phẩm mà ông phối cho dàn giao hưởng và sự hoà hợp của các giọng ca khi nghe Bộ Lễ này. Bộ Lễ này trở nên nổi tiếng hơn vì lý do mà ông viết và cái chết của ông cùng với sự dở dang của tác phẩm.  

Chuyện kể là có một người đến đặt hàng cho Mozart viết bộ lễ cầu hồn. Người này che mặt và yêu cầu Mozart giữ bí mật về cuộc gặp gỡ và yêu cầu này. Ngần ngại lúc ban đầu, Mozart đang nửa sống nửa chết với bệnh dịch, cộng với số tiền được đề nghị, người này đã thuyết phục Mozart chấp nhận đơn đặt hàng này; nhưng vợ Mozart kể lại là việc gặp gỡ người che mặt và sự bí mật này làm cho Mozart nghĩ và tin về cái chết của mình đang gần kề. Người lạ mặt này được sai đến để báo về cái chết này, vì thế ông nhận lời và viết bộ lễ cầu hồn này như viết cho chính lễ an táng của mình.

Mozart viết hoàn chỉnh từ phần đầu cho đến hết ca dâng lễ và các phần còn lại thì chỉ là bản nháp. Dù là nhà soạn nhạc, Mozart chú trọng đến ca từ của bộ lễ, vốn là những lời văn được viết sẵn trong nghi lễ an táng của Kitô giáo. Ngay phần đầu của bản phối, người nghe được Mozart dẫn vào một thế giới đầy u uất tuyệt vọng, huyền bí, và tối tăm qua những nốt trầm nổi lên dài ngắn, ngắt quẵng, mờ mịt làm nền cho dàn hợp xướng cất lên lời ca: “Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời.” Nhạc cung thứ lúc này làm cho ai đó đang mờ mịt lại càng thấy tối tăm hơn. Những khuôn nhạc lập lại dồn dập hơn nhưng ở những cung độ cao hơn và những điểm nhấn đậm nhạt theo chủ ý làm cho người nghe như chạy trong sự hụt hơi để tìm kiếm một nơi an nghỉ. Và rồi, khi đẩy sự tuyệt vọng đến đỉnh, Mozart bật lên những cung điệu khác. Ông xây dựng và sắp xếp các cung điệu của hy vọng và tươi vui, rõ ràng và đẹp đẽ hiện dần lên để dàn hợp xướng bật lên cụm từ: “và cho ánh sáng ngàn thu, chiếu soi trên những linh hồn ấy.”

Cứ như thế, Mozart soạn nhạc cho những bản văn được viết sẵn trong nghi thức an táng theo cùng một cung cách ấy. Cái mấu chốt làm thay đổi cảm xúc của người nghe là họ được Mozart dẫn theo một cuộc hành trình từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ sự phát xét đến lòng thương xót vô hạn, từ vực tội tối tăm đến ơn tha thứ bất tận, và nhất là từ cái chết đến sự cứu rỗi, sự sống vĩnh cửu. Mozart chết khi tác phẩm chỉ mới bắt đầu phần “Ca Tiếp Liên – lời ai oán” được đọc hoặc hát sau bài đọc Kinh thánh. Chính trong những lời ai oán buồn đến thê thảm của ngày phán xét sau cùng, cũng là lúc những nốt nhạc toát lên vẻ đẹp nhất của nó dù chỉ là trong khoảng khắc của một trường độ trong khuôn nhạc.

Đối với Mozart, đau khổ và cái chết không là một khái niệm trừu tượng, nhưng là những kinh nghiệm rất thật. Cuộc sống đã nhào nặn ông, có lẽ cùng với Đức Tin Kitô Giáo, thành thiên tài âm nhạc để diễn tả những gì là đẹp nhất và đau khổ nhất. Có lẽ những dàn giao hưởng và hợp xướng khi biểu diễn những tác phẩm của ông cũng có cùng một nỗi giằng co khó tả giữa cái đẹp và sự phức tạp của cuộc sống khổ đau tuyệt vọng. Nhạc của ông như hành trình thoát ra khỏi cái giằng co ấy và cái chết đến với ông như sự giải thoát dù có dở dang như tác phẩm chưa được hoàn thành.

Khó có thể giải thích những gì làm nên con người Mozart và thiên tài âm nhạc của ông; nhưng Mozart đã dùng món quà âm nhạc của mình giúp người nghe nhạc của mình có thể tưởng tượng như là ông đã, đang kinh nghiệm được cái chết và nhận ra được phần nào cuộc sống sau đó. Có lẽ những lá thư ông để lại phần nào hé mở một chút, để ai quan tâm tiếp tục tưởng tượng về những nốt nhạc bất hủ của ông. Những lá thư ông viết cho gia đình đầy dẫy những cư xử thô lỗ của ông từ ngôn ngữ đến hành động. Ông đã có một tuổi thơ tang thương và cuộc sống ông bị gián đoạn bởi cái chết của năm anh chị em ruột lúc còn bé và ông cũng chứng kiến bốn trong sáu người con của mình qua đời. Cuộc sống với nhiều bệnh tật và nợ nần, ông chết lúc gần đến sinh nhật thứ 36 của mình.

Thư ông cũng nhiều triết lý sâu xa. Khi nhận được tin bố mình ốm nặng, Mozart viết lá thư cuối cùng cho bố như lời từ biệt với những suy tư về cái chết không có gì đẹp hơn: “Sự chết, khi cẩn thận xem xét, là mục tiêu đích thực của sự tồn tại của chúng ta. Vài năm gần đây, con đã được đào tạo để có những mối liên hệ mật thiết với người bạn tốt nhất và thật nhất của nhân loại, mà hình ảnh của bạn ấy không những không còn làm con sợ hãi nữa, nhưng làm con thật thư thái bình an và đầy an ủi! Con cảm tạ Chúa đã cho con cơ hội học hỏi (bố hiểu con muốn nói gì) để biết rằng cái chết chính là chìa khoá mở ra cách cửa hạnh phúc của chúng ta. Con không đặt mình xuống mỗi khi đêm về mà không suy tư đến nó – dù con còn trẻ, con có thể không sống để nhìn thấy thêm một ngày nữa.”3

Rất có thể Mozart đã suy nghĩ rằng cái chết là sự giải thoát cho những đau khổ của ông. Rất có thể ông linh cảm rằng tác phẩm dở dang của ông sẽ được viết tiếp tục và kết thúc bởi người khác, bởi học trò, bởi những người ảnh hưởng âm nhạc của ông. Với món quà thiên phú của mình, ông làm cho từng tác phẩm trở thành khí cụ để diễn tả sự đặc biệt của cuộc sống như một hành trình của hy vọng. Dù có thiên tài đến đâu, ông biết mình cũng phải ra đi và coi đó như đích đến của hạnh phúc. Khi thiên tài chết đi, mọi sự trong vũ trụ này và mọi người khác phải tiếp tục, cứ tiếp tục và cuộc sống cứ mãi tiếp tục, hành trình hy vọng vẫn mãi tiếp tục và được đan kết bởi những con người và những gì còn lại với nhau cho dù có là thiên tài hay là sự bất hảo rất đỗi bình thường của thế giới thụ tạo này trong cuộc sống được lặp lại hàng ngày.

Với thiên tài âm nhạc của mình, cộng với thể loại nhạc bình ca (Gregorien) của Kitô Giáo, Mozart biến cung Rê thứ trong Bộ lễ Cầu Hồn của mình thành biểu tượng của những gì xảy ra sau cái chết trong âm nhạc, vì hầu như các bộ lễ cầu hồn đều có cung Rê thứ.

Vật lộn với những công việc hằng ngày thời đại dịch COVID, thằng tôi sống tháng cuối cùng của lịch phụng vụ với những suy nghĩ của nó về Mozart khi nghe Requiem của ông. Thằng tôi quăng mình vào trong tưởng tượng của nó về hành trình nó đang đi giữa những vất vả khó khăn khách quan và chủ quan. Nó rất hy vọng rằng đó là hành trình từ những tối tăm mù mịt (dù chưa tuyệt vọng) đến những hy vọng nhỏ nhoi. Cái chết có là đích đến không? Hoàn toàn là không, nhưng nó là chìa khóa để bước vào hạnh phúc. Biết rõ chiếc chìa khóa này và biết chút gì về những gì sẽ xảy ra sau cái chết, từng ngày một của thế giới này sẽ rất đẹp, rất hay, rất trầm, rất bổng, rất nhanh, rất chậm rãi, rất dài, rất ngắn, … như những nốt nhạc của bộ lễ mà từng người sẽ phải viết cho lễ an táng của chính mình, dù có phải dở dang…

Bước chầm chậm dọc theo những ngôi mộ của người anh em trong dòng, thằng tôi hát nhẩm theo những cung điệu của Requiem của Mozart và xem đó như lời cầu nguyện dành cho nhau: “…xin cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn” và cả linh hồn của nó nữa.

Ghi chú.

  1. Requiem – Bộ lễ Cầu Hồn thường được dùng trong Thánh Lễ An Táng của Kitô Giáo. Một bộ lễ thường có Ca Nhập Lễ, Ca Dâng Lễ, Ca Hiệp Lễ, Ca Tạ Lễ cùng với Lễ Qui gồm kinh Thương Xót, kinh Vinh Danh (nếu có), Đáp Ca, Ca Tiếp Liên/Alleluia, kinh Tin Kính (nếu có,) kinh Thánh Thánh Thánh, kinh Lạy Cha, kinh Chiên Thiên Chúa.
  2. Thánh Vịnh 129 là kinh Vực Sâu mà người Viẹt hay đọc lúc kết thúc nghi thức an táng hay viếng xác một ai đó. Kinh này cũng hay được đọc trong nhà thờ, nghĩa trang, hay nhà riêng để cầu nguyện cho một ai đó mới qua đời.
  3. Thư 222, The Letters of Wolfgang Amadeus Mozart (1769-1791), Vol. II, 2004. Translate by Lady Wallace.

Người Lữ Hành.

Ngày mùng 06 tháng Mười Một, 2020.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hành Trình Tháng Mười Một Đáng Nhớ – 1

Trạm dừng số một – Trò chơi trẻ con: Thiên Đàng Hoả Ngục1

Khắp phố phường và trên từng mảnh vườn nho nhỏ trước nhà của cư dân vùng thằng tôi ở được trang trí cho lễ hội Halloween. Mọi ngóc ngách bỗng trở nên ma mị với những ngôi mộ, bộ xương, hay sự hoang tàn của một nơi bị bỏ hoang. Có những trang trí dùng cả những âm thanh rợn rùng của cõi tà ma nào đó, ngay cả trong lòng quán xá, công sở và trung tâm phố thị đông người. Trong cái khung cảnh lạ lùng đó, con trẻ thì vui thích  hoá trang thành thú, thành thần, thành những nhân vật ảo tưởng, đôi khi thành hồn ma nữa. Người lớn thì cũng chẳng khác gì, chỉ thêm vào những hoá trang đó những khoái lạc xác thịt thì bỗng dưng ai ai cũng lạc vào cái thế giới mà không ai biết đó là gì.

Với nhà kinh doanh thì đây là cơ hội để buôn bán và kiếm tiền. Không ít người đổ tiền cho cái ngày lạ lùng này; vì thế, có những cửa hàng chỉ mở bán những món hàng phục vụ ma quái rồi sau đó đóng cửa. Với nền văn hoá thì có lẽ nhiều người đã quên nguồn gốc của lễ hội này, không biết nó từ đâu đến và ý nghĩa của nó là gì. Đối với họ, cái ngày này lại là lý do để ăn uống, tụ tập và vui chơi. Xã hội thì cổ xuý cho mọi người bỏ dần đi những giá trị thiêng thánh. Chúng bây cứ tha hồ làm quỷ làm làm ma, làm mèo làm chó, làm cái gì cũng được, miễn là loại bỏ dần những gì thuộc về thượng giới là được tung hô khen ngợi.

Thực ra, cái đêm quỷ ma hú hí vui chơi như thế là đêm Vọng của một lễ rất trọng dành để kính những người được gọi là thánh. Họ là một cộng đoàn gồm nhiều thế hệ, có đủ mọi thành phần xã hội, thuộc mọi ngôn ngữ và văn hoá khác nhau, làm đủ mọi ngành nghề để kiếm sống. Họ là một cộng đồng đa dạng nhất trong tất cả mọi cộng đồng. Dù đa dạng, họ có một điểm chung là sự thánh thiện, ở chung một nhà gọi là Thiên đàng, và  cùng gọi Thiên Chúa là cha. 

Khung cảnh xã hội và kiến thức đức tin như chiếc xe chở thằng tôi về quá khứ. Nó nhớ lại trò chơi Thiên Đàng Hoả Ngục Hai Bên thời thơ ấu. Lúc ấy, nó chẳng hiểu gì về những ẩn ý giáo dục, về triết lý sống mà tổ tiên mượn bài đồng dao để dạy bảo nó. Lúc đó thì cứ học cho thuộc, hát cho đều, có kẻ thì ngăn người chơi vào thiên đàng và người chơi thì ráng chọn lựa đúng nhịp hát để rớt vào vòng tay gọi là thiên đàng. Và thế là cười đùa vui vẻ, để rồi dù mệt nhoài với những rượt bắt, bài đồng dao trở thành một phần của trí nhớ, một phần của cuộc sống mà lũ con trẻ chưa thể nghĩ đến những ảnh hưởng tốt cho tâm linh của chúng nó sau này. 

Lớn dần theo năm tháng, tâm hồn của mọi người cũng lớn dần lên và đi tìm sự khôn ngoan để nuôi nấng tâm hồn. Cái khôn cái dại của bài đồng dao thời thơ ấu bỗng chốc trở nên cô đơn với những giá trị giả tạo mà con người vội vàng chạy theo khi mới lớn. Bài đồng dao ngắn gọn nhắn nhủ rằng người khôn là người đi tìm thiên đàng mà sống. Một lối sống nhớ Chúa nhớ Cha mỗi khi đêm về. Một cuộc sống đọc kinh cầu nguyện để linh hồn khỏi đi lạc lối. Một cuộc sống gìn giữ nội tâm chân chính như thước đo để an nhàn thư thái giã từ cõi đời và được ân thưởng thiêng đàng. 

Thằng tôi không nhớ đã chơi trò này bao nhiêu lần và lần cuối nó ở trong cuộc chơi khi nào, nhưng lúc này, trò chơi này dường như đang xâm chiếm tâm hồn nó. Những tiếng cười và vòng tay bạn bè làm cổng thiên đàng ngày xưa không hiện diện một cách thể lý; nhưng vẫn cụ thể như ngày nào. Những lần cãi cọ phân biệt thiên đàng hoả ngục là hai nơi không thể dung hoà nơi sân chơi nho nhỏ ngày xưa không còn đủ sức thuyết phục để cho ai đó thưởng phạt ai trong đó; nhưng sự thật của chân lý này làm cho tâm hồn có cơ sở chọn lựa một lối sống mang tính quyết định số phận hạnh phúc hay trầm luân đời đời. 

Cuộc đời lúc này cũng như trò chơi Thiên Đàng Hoả Ngục Hai Bên. Không ai biết thiên đàng thế nào và hoả ngục ra sao. Chắc chắn là thiên đàng không phải là một nơi cụ thể nào đó, một cõi nhàn nhã hạnh phúc sung sướng. Chắc chắn hoả ngục cũng không có địa chỉ để con người né tránh những hình phạt. Hai câu ngắn ngủi ở giữa bài đồng dao diễn tả việc ở trong thiên đàng hay hoả ngục chỉ là sự thuộc về Thiên Chúa hay không thuộc về Ngài. Ngay cả cung cách chơi cũng vậy. Khi bài đồng dao kết thúc là lúc cánh tay đang giơ lên như cái cổng sụp xuống để phân biệt hai bên rõ ràng. Ở trong thiên đàng là ở trong vòng tay Thiên Chúa. Ở trong hoả ngục là nơi chả có vòng tay nào ôm ấp cả. Thiên đàng và hoả ngục đều có ở trong mảnh đất tâm hồn và cái ranh giới mỏnh manh giữa hai thực tại ấy chỉ là cái vòng tay của Thiên Chúa. 

Cuộc sống trôi  dần theo năm tháng và mọi người tiếp tục trò chơi này trong cuộc đời nổi trôi. Mọi người vẫn tiếp tục rượt đuổi nhau, vẫn cùng nhau làm việc và sinh hoạt nhưng lúc này ai dại ai khôn, ai đêm nằm nhớ Chúa nhớ Cha, ai đọc kinh cầu nguyện và ai giữ linh hồn thì không còn như thời con trẻ nữa. Ai muốn ở bên phe thiên đàng thì khao khát sự thuộc về vòng tay Thiên Chúa. Sự khao khát này làm họ buông bỏ mọi sự để tìm kiếm cho ra vòng tay này. Cuộc tìm kiếm vòng tay Thiên Chúa đôi khi làm họ trả giá bằng chính mạng sống mình. Và khi ở trong vòng tay Thiên Chúa, mọi người xung quanh ngả mũ kính cẩn nghiêng mình trước họ vì họ là thánh. 

Trò chơi này chẳng nói gì về bên hoả ngục cả. Chỉ biết rằng lúc bài đồng dao kết thúc thì không ai muốn bị phạt. Trò chơi có lẽ nhắn nhủ rằng vào thiên đàng thì khó lắm ai ơi. Thân xác thì phải đọc kinh cầu nguyện. Linh hồn thì phải gìn giữ nhớ Chúa nhớ Cha. Muốn ở bên phe thiên đàng thì phải làm lụng vất vả tập tành. Bằng không, trong trò chơi cuộc đời, sự lười biếng tâm linh chính là sự khởi đầu của một linh hồn sa ngã. 

Đã từ lâu lắm rồi, thằng tôi không còn thấy con trẻ chơi trò này nữa. Không biết nên vui hay nên buồn với những trò chơi được thay thế trong thời đại văn minh điện tử. Chuyện thiên đàng hoả ngục bây giờ chỉ còn là một trang trí trong xã hội. Ngay cả lãnh vực tâm linh và tôn giáo cũng coi nhẹ cõi thiên đàng hoả ngục, từ đó trong trò chơi cuộc đời, tâm hồn con người không còn ngại ngùng với những lười biếng tâm linh nữa. Tệ hại hơn nữa, những giáo lý về thiên đàng và hoả ngục bị đả phá và đòi hỏi thay đổi. Thiên đàng hoả ngục là hai thực tại của đức tin. Việc hiểu biết những thực tại đức tin cần lắm một cái nhìn, một khởi điểm đức tin. Nói một cách đơn sơ là chấp nhận một mặc khải đến từ Thiên Chúa, Đấng luôn lớn hơn những gì ta có thể nghĩ ra. Trong cách nhìn này, trò chơi con trẻ vẫn còn nguyên giá trị cho người trưởng thành, vì con trẻ chấp nhận một thực tại lớn hơn chúng dễ dàng hơn người trưởng thành.

Thằng tôi nhận ra rằng, thái độ đơn sơ của con trẻ thật cần thiết trước những thực tại thần linh. Đôi khi trong dòng đời, người có đức tin không thể tìm ra câu trả lời hay những lý giải hợp lý cho hai thực tại thần linh này; và đôi khi nó có vẻ như nghịch lại suy luận logic của lý trí nữa. Trong những tình huống như thế, sự vâng lời cần thiết hơn và quan trọng hơn những lý luận sắc bén của lý trí mà không có lòng khiêm tốn.

Đêm hallowen mộng mị của thế giới hiện đại và đêm vọng của lễ kính các thánh Nam Nữ cũng chỉ là đêm cuối cùng của tháng Mười theo con lịch. Hai cung cách tổ chức ăn mừng thật khác nhau vì nó diễn tả hai thực tại thật rõ ràng và riêng biệt. Cũng ở giữa một con phố, một căn nhà, nhưng ai đó có thể biến nó thành thiên đàng hay hoả ngục bằng cách sống và cách cử hành cuộc sống của mình như con trẻ ở cùng một sân chơi. Đôi lúc thằng tôi cũng muốn phản ứng lại những xu hướng vô thần và duy vật chất của xã hội một cách công khai bằng những lý luận và tri thức.  Nhưng ai dại ai khôn trong trò chơi thời cuộc lại hệ tại ở việc tu thân nhiều hơn. Trò chơi thời thơ ấu thủa nào như ông thầy nghiêm khắc trên lớp đang răn đe học trò không được sống lười biếng tâm linh, phải vâng lời Thiên Chúa và sống tươi vui giữa đời. Thiên đàng hoả ngục không phải là nơi chốn nào đó, mà là ngay ở đây, giữa cõi trần mênh mang này, nơi mà con người có thể tìm thấy Vòng Tay ôm hoặc lạc mất nó. Đã có hàng ngàn, hàng triệu con người, từng thế hệ nối tiếp thế hệ thuộc về Vòng Tay này. Ngày mai, khi tôn kính các vị tiền bối ấy với tước hiệu là thánh, thằng tôi được nhắc nhở là phải sống giữa trần này mà không được lười biếng, phải tu thân vất vả nhớ Chúa nhớ Cha, phải đọc kinh cầu nguyện. Đây cũng là điều thằng tôi phải dành giờ nhìn lại trong một năm vừa qua. Tháng Mười Một bắt đầu với việc kính nhớ các thánh và sau đó là cầu nguyện liên lỉ cho người đã qua đời. Truyền thống cử hành của đức tin luôn song hành với biến cố của xã hội để nhắc nhở và thánh hoá xã hội. Thằng tôi này cám ơn món quà đức tin và cám ơn món quà văn hoá Việt vì đã cho nó một bài học nhẹ nhàng và liên tục về thiên đàng hoả ngục ngay giữa trần gian này. Nó mong rằng việc nhìn lại một năm qua giúp nó tu thân hơn và bớt lười biếng tâm linh hơn. 

Ghi chú:

  1. Đây là một trò chơi dân gian của trẻ con ở các miền quê. Thằng tôi này nhớ lại những ngày vui đùa bên cánh đồng với bạn bè thời thơ ấu. Một bài đồng dao được cả nhóm đọc lên. Khi kết thúc bài đồng dao, cửa thiên đàng đóng lại. Ai được vào thì không bị phạt, ai không được vào thì bị phạt đủ kiểu. Lời của bài đồng dao được thằng tôi nhớ lại như sau: ” Thiên đàng địa ngục hai bên, ai khôn thì lại-ai dại thì qua, đêm nằm nhớ Chúa nhớ Cha, đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn, linh hồn phải giữ linh hồn, đến khi gần chết được lên thiên đàng.” Có thể xem thêm trong Huệ Khải, Bắc Cầu Tâm Linh, Hànội, nxb Tôn Giáo, xuất bản lần 1 2012, trang 117-118.

Người lữ hành.

Đêm vọng Lễ trọng kính các thánh Nam Nữ.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Âutinh và Sự Giằng Co

Âutinh và Sự Giằng Co

Lễ thánh Âutinh – ngày 28 tháng Tám hằng năm luôn là một ngày đặc biệt với thằng tôi. Trong ngày này cách đây nhiều năm, thằng tôi công khai thông báo cho mọi người, xin họ chứng giám và giúp nó sống một lối sống khác lạ qua lời khấn Vâng Lời, Khó Nghèo và Khiết Tịnh. Bỗng dưng năm nay, cái cảm giác lâng lâng bồi hồi và có chút mãn nguyện ngày nào tràn về đầy tâm hồn nó; không phải để bế nó bồng bềnh với những gì được gọi là hạnh phúc hay bằng lòng, nhưng dường như để báo trước những ngày tháng khó khăn sắp tới đang chờ đợi nó mà bản thân thằng tôi chỉ biết bằng một chút linh cảm.

Trong cuốn Tự Thuật (Confessions) tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Âutinh chia sẻ con đường lấp đầy nỗi khắc khoải của ngài cho chúng ta chính là con đường bước vào bên trong chính nội tâm mình. Âutinh viết: “Người đã rời khỏi ánh mắt của chúng ta để chúng ta trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

Âutinh chia sẻ kinh nghiệm này sau khi tốt nghiệp và trở thành thầy dạy về hùng biện lúc còn rất trẻ. Công việc hứa hẹn một vị trí xã hội đáng kính trọng và có một tương lai mở rộng như gia đình mong đợi. Cùng lúc này, Âutinh đang ở trong lạc giáo và chung sống với người phụ nữ ngoài giá thú trong một thời gian dài. Âutinh cũng khóc trước cái chết của một người bạn thân, người Âutinh gọi là “nửa hồn mình” mà nơi người bạn này, kinh nghiệm của Âutinh về tình bạn là “sự ngọt ngào hơn tất cả những ngọt ngào của cuộc sống mà tôi trải qua.”

Dù viết xuống thật ngắn, Âutinh đã cho ta thấy độ dầy và khoảng rộng của một tâm hồn cần có để chấp nhận và ôm ấp những nghịch lý của mối liên hệ giữa thụ tạo và Đấng tạo thành nên nó. Với Âutinh, hoán cải trở về là từng bước tập cho mình chấp nhận được và ôm ấp được những nghịch lý của mọi khía cạnh của cuộc sống làm người, từ cấp độ thấp nhất cho đến cấp độ cao nhất. Những nghịch lý này tạo nên những giằng co nhất định trong nội tâm của con người. Âutinh nhìn  những cách giải quyết những giằng co này như những dấu chỉ để nhận ra một tâm hồn đủ rộng đủ sâu, và phản ánh niềm vui nội tâm của việc hoán cải đích thực.

Trong giai đoạn này, Âutinh biết rất rõ con đường phải đi nơi lòng mình, nơi Âutinh tìm được sự ngọt ngào của tình bạn, khoái lạc của sự kết hợp thể xác, thành công như dự định, và cũng như trải qua những đớn đau mất mát. Khi trải qua những kinh nghiệm này, Âutinh mời ta nhắm mắt lại để ta có thể nhìn nó rõ hơn từ nội tâm mình. Khi làm giám mục và viết lại những biến cố này, Âutinh mời ta đọc nơi câu văn ngắn ngủi đó nhắm đến con người có tên Giêsu-nền tảng sâu xa của Đức Tin, nhắm đến cái Tình – cốt lõi của một con người, và xây dựng lòng can đảm – dấu chỉ của sự trở lại đích thực.

  1. Giêsu – nền tảng sâu xa của Đức Tin.

Suốt chương 12 của cuốn IV, cái tên Giêsu không được nhắc đến, nhưng Âutinh đã giới thiệu Giêsu như là trung tâm của Đức Tin và ơn cứu độ mà Giêsu mang lại. Nơi số 19 của chương này, Âutinh giới thiệu sự Nhập Thể của Giêsu và Ngài trở thành sự sống mà chính Âutinh đang tìm kiếm. Một sự sống lấp đầy sự khắc khoải khôn nguôi mà mọi thứ trên đời không gì có thể lấp đầy được như nghề nghiệp và bạn bè, tiền bạc và khoái cảm thể xác, ngay cả tri thức và quyền lực. Việc bước vào không gian và thời gian của một Thượng Đế ở ngoài không gian và thời gian là một điều không thể tưởng tượng được, không thể nghĩ được. Một cách gián tiếp, Âutinh đẩy việc nhập thể của Thượng Đế trở thành hành vi tuyệt vời nhất mà con người cần đến đó là sự cứu độ và giải thoát. Cái đầu nhỏ bé của con người không thể nghĩ được chuyện đang xẩy ra đồng thời đang kinh nghiệm mình là một phần của điều đang đó. Hãy nhắm mắt lại, bước vào lòng mình để thấy một Thượng Đế thu nhỏ lại trong nơi kín đáo thẳm sâu của lương tâm mà nơi đó chỉ có chỗ cho chính bản thân mình và Thượng Đế. Và để có thể cho con người trở thành một phần của Thượng Đế, chính Ngài đã ẩn mình đi – “rời khỏi ánh mắt của chúng ta.”

  1. Cái Tình – cốt lõi của một con người.

Với nghề nghiệp mới và óc tìm tòi của mình, Âutinh đọc nhiều và phê bình chính tác phẩm đầu tay của mình và những kiến thức của mình về vũ trụ. Âutinh không ngại dùng từ “sự điên rồ khốn khổ” để nói về mình khi cố gắng hết sức để diễn tả vẻ đẹp thần linh và những gì thuộc về vĩnh cửu. Một người ở trong không gian và thời gian thì không thể diễn tả những gì bên ngoài nó. Dù có nỗ lực thế nào đi nữa, việc diễn tả ấy trở thành yếu tố gây chia rẽ và xung đột. Âutinh nhận ra rằng, để giảm những sai lầm xấu xa, Âutinh phải “gần” với Thượng Đế để Ngài chiếu ánh sáng không thể từ chối và che đậy được vào nơi tăm tối nhất của con người là nội tâm của nó. Với ánh sáng đó, con người gặp được Sự Thật để mà tham dự, tháp nhập vào nó một cách từ từ qua những quyết định. Như thế, những gì là thần linh lại được diễn tả bằng cuộc gặp gỡ và bằng cái tình hai bên trao nhau trong cuộc gặp gỡ đó. Lúc ấy, con người thực sự sống sự sống thần linh ngay lúc bắt đầu bước vào cuộc tình và điều này làm cho con người hoàn toàn trở nên khác với tất cả mọi thụ tạo vì nó có thể “trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

  1. Can đảm – dấu chỉ của sự trở lại đích thực.

Khi chia sẻ kinh nghiệm này của chính mình, Âutinh chưa rửa tội và đang lang thang tìm kiếm Thượng Đế bên ngoài chính mình. Nhưng có lẽ khi nhìn lại chính mình lúc 20  tuổi, Âutinh thấy Thượng Đế đã bắt đầu thủ thỉ qua tiếng lòng của chính mình. Dù can đảm này chưa lớn đủ để Phép Rửa có thể xảy ra ở lứa tuổi 20 ấy, Âutinh vẫn tìm kiếm và vẫn lắng nghe tiếng lòng để bước vào cuộc tình. Tiếng thì thầm của Thượng Đế cứ lớn dần lên qua những kinh nghiệm nhân sinh và Âutinh cần hơn mười năm nữa để có quyết định lãnh nhận Phép Rửa.

Kinh nghiệm khi “người rời khỏi ánh mắt” của mình, cộng với sự can đảm và kiên trì “trở về lòng mình”,  Âutinh đã tìm và đã gặp người. Cuộc tình cứ lớn dần lên và khi nhớ về nó, Âutinh đã viết lên những dòng chữ không gì có thể đẹp hơn và không ai có thể hiểu được ngoại trừ chính người đó cũng bước qua con đường y như thế:

“Ôi con yêu Chúa quá muộn màng,
Ôi Vẻ Đẹp rất cổ kính và tân thời, con yêu Chúa quá muộn màng!
Ngài ở trong con, nhưng con tìm kiếm ngài ở ngoài con…
Ngài đã gọi, đã gào thét, …Ngài toả sáng… Ngài đụng chạm…
để lòng con được bùng lên sự khao khát bình an của ngài.”

Với những suy nghĩ này, thằng tôi muốn chia sẻ những giằng co trong nội tâm mình khi nhớ về một ngày đặc biệt của riêng nó. Thằng tôi cần lắm những giây phút “người rời khỏi” ánh mắt của nó, không phải để nó cảm thấy cô đơn hay bơ vơ trong đời sống, không phải để nó có cớ phàn nàn sao Chúa lại vắng mặt và vô hình lâu đến vậy trước những biến cố của cuộc sống; mà là để nó có cơ hội “trở về lòng” của nó để mà tìm và để gặp một con người có tên Giêsu, một con người luôn ao ước bước vào cuộc tình như nó bao lần hằng mơ ước. Thằng tôi cần vun trồng sự can đảm trong cõi lòng mình và kiên trì ở lại đó hơn là dong duổi tìm kiếm bên ngoài. Thằng tôi không biết nó cần bao nhiêu năm tháng nữa để có thể thốt lên như Âutinh: Ôi Thiên Chúa, Vẻ Đẹp cổ kính và tân thời; nhưng nó biết chắc là nó sẽ thốt lên rất nhiều lần như một lời thú tội “con yêu Chúa quá muộn màng!”

Sống lại với những lời hứa của mình cho một lối sống khác lạ, thằng tôi mừng lễ ông tổ của nó với những giằng co ngổn ngang trong tâm hồn. Những giằng co này không phải để chọn cái này bỏ cái kia, nhưng là chấp nhận, là ôm ấp những nghịch lý của thân phận làm người với những tội lỗi và yếu đuối; đồng thời chấp nhận món quà lớn lao mà nó chẳng đáng nhận là sự cứu rỗi và an bình vĩnh cửu. Không biết đến bao giờ thằng tôi này mới chấp nhận mọi sự cách trọn vẹn trong vui vẻ, mới ôm ấp mọi sư thật chặt với lòng can đảm. Xin mọi người cầu nguyện cho thằng tôi tập sống yêu mỗi ngày để tâm hồn nó có độ dầy và khoảng rộng của cuộc tình vĩnh cửu.

“Người đã rời khỏi ánh mắt của chúng ta để chúng ta trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Kinh Nghiệm Thánh Thể thời đại dịch Covid-19

Sẽ không thể quên với những người sống vào năm 2020 và lịch sử sẽ kể lại về một biến cố thật vĩ đại trên phạm vi toàn cầu bởi một con virus rất nhỏ và gần như vô hình. Bản thân con virus không tồn tại lâu được nhưng chỉ bám vào cơ thể sống để phát triển. Nó không đi đâu được nhưng rất tranh thủ những bước chân của con người để hiện diện khắp chốn. Sau ba tháng, nó gần như nó có mặt ở bất cứ nơi đâu có mặt con người, gây nhiều chết chóc và gieo rắc nỗi sợ hãi khắp nới. Nó làm nên đại dịch với tên Covid-19 (Corona Virus Disease of 2019). Mọi biện pháp từ ngăn ngừa cho đến chữa trị được bàn thảo và được đề nghị áp dụng. Ngoài những nghiên cứu khoa học để tìm cách ngăn ngừa (vaccine) và chữa trị (medication treatment), con người phải tự cách ly bản thân mình như cách thức ngăn ngừa và chữa trị hiệu quả. Thế là lệnh cách ly được hầu hết các chính quyền sử dụng, áp dụng cho tất cả mọi người, mọi tổ chức, mọi công việc, kể cả việc tôn giáo. Đối với Kitô giáo, lệnh cách ly rơi đúng vào những ngày tháng quan trọng nhất của cử hành tôn giáo: mùa chay, tuần thánh và đại lễ Phục Sinh.

Lệnh cách ly của chính phủ làm cho cả xã hội nói chung có phần nào đó sống như một đan viện. Nơi đan viện, chúng tôi không ra ngoài nhưng làm việc theo bổn phận được  bề trên trao cho mình. Chúng tôi giữ thinh lặng nhiều và chỉ nói những gì cần thiết. Chúng tôi giữ khoảng cách nhiều vì phòng riêng cũng là văn phòng làm việc. Chúng tôi chia sẻ bữa trưa với nhau trong tình anh em và đôi khi vừa ăn vừa nghe đọc sách thiêng liêng. Nhà nguyện là trung tâm của đan viện và của đời sống chúng tôi. Nơi chúng tôi sống đời tu sĩ nhiều nhất, làm tu sĩ nhiều nhất và chia sẻ cuộc sống  tu sĩ với nhau nhiều nhất. Ít nhất là bốn lần trong ngày, chúng tôi cùng nhau đọc kinh sáng, chiều, tối và cử hành thánh lễ. Khác với chúng tôi, các tín hữu thường đến nhà thờ (nhà nguyện) một tuần một lần vào ngày Chúa nhật để cử hành Thánh Thể, hoặc có những tín hữu vẫn siêng năng đến nhà thờ cử hành Thánh Thể mỗi ngày.

Cử hành Thánh Thể là việc làm tôn giáo cao nhất của một người tin Chúa. Tuy nhiên, lệnh cách ly đã không cho phép các tín hữu tụ tập để cử hành Thánh Thể như thường lệ. Đây là một mất mát lớn cho các tín hữu, nhất là trong những ngày trọng đại nhất trong năm của đời sống đạo. Lúc này, cơn đại dịch Covid-19 đã làm mất đi những ý nghĩa rất quan trọng của việc cử hành tuần thánh và lễ Phục Sinh: Sám hối công cộng,  Suy tôn Thánh Giá, Rửa tội cho các dự tòng, và canh thức Phục Sinh. Trước sự việc bất khả kháng này,  các linh mục quản xứ cố gắng nghĩ ra nhiều phương thức để cùng với tín hữu của mình tiếp tục cử hành Tam Nhật Thánh và Thánh Thể. Với kỹ thuật hiện đại, thánh lễ và các cử hành được truyền hình trực tiếp và ai ai cũng có thể tham dự nhờ một điện thoại thông minh.

Nơi đan viện, cuộc sống tâm linh không có gì thay đổi. Vẫn bốn lần vào nhà nguyện và Thánh Thể vẫn được cử hành như thời khoá biểu bấy lâu nay. Tuy nhiên, với những thông tin báo chí, cùng với điện thư và điện thoại nhận được, thằng tôi nhận ra những khao khát của các tín hữu muốn cử hành Thánh Thể như bình thường; nghĩa là được quy tụ lại, cùng nhau hát, cùng nhau thú tội và xin ơn tha thứ, cùng nhau cầu nguyện và chúc bình an, và nhất là cùng nhau hiệp thông trong một tấm bánh được bẻ ra và một chén được chúc tụng. Thằng tôi không phủ nhận những cố gắng và rất trân trọng những ý muốn ngay lành của tất cả mọi người dâng lễ trực tuyến để những kinh nghiệm này không mất đi. Bản thân nó cũng nhận nhiều điện thư và điện thoại hỏi xem rằng nó có dâng lễ trực tuyến không. Dù vậy, thằng tôi có những suy nghĩ có lẽ khác với mọi người. Xin được phép chia sẻ những suy nghĩ này trong tâm tình Giáo Hội và cá nhân.

  1. Có rất nhiều người nghe thằng tôi chia sẻ, lập đi lập lại và nhấn mạnh trong những buổi tĩnh tâm hay trong những buổi hội thảo rằng: theo Kitô Giáo là theo một con người – sống đức tin Kitô Giáo là sống với một con người – con người có tên Giêsu. Mọi giới luật của Kitô Giáo nhằm giúp các tín hữu gặp gỡ con người này. Mọi sinh hoạt của Kitô Giáo nhằm giúp các tín hữu biết con người này. Mọi hy sinh và cử hành của Kitô Giáo có mục đích duy nhất là sống với con người này. Găp gỡ-Biết về-Sống với con người Giêsu này là một kinh nghiệm cá nhân. Vẫn biết rằng các tín hữu có thể Gặp gỡ-Biết về-Sống với con người Giêsu qua Kinh Thánh, qua thừa tác viên và mọi người xunh quanh, qua lời cầu nguyện. Nhưng để có thể làm điều Giêsu căn dặn phải làm mà nhớ đến Ngài thì chỉ có cử hành Thánh Thể thực sự vì nơi đó, tín hữu “Cầm lấy thân mình đích thực của Giêsu mà ăn. Cầm lấy chén máu đích thực của Giêsu mà uống”. Việc rước lễ thiêng liêng khi nhìn qua màn hình chiếc điện thoại sẽ rất khác với việc tiến lên bàn thờ, cầm lấy mà ăn, mà uống.
  2. Có rất nhiều người nghe thằng tôi hay nói đến kinh nghiệm “thời gian không hiện hữu.” Thằng tôi không phủ nhận những giới hạn của thời gian mà không gian nó đang sống. Lịch sử cuộc sống của thằng tôi trong đại dịch Covid-19 này đang nằm trong những ngày tháng Tư của năm 2020, đang ở trong một không gian nhỏ bé của vùng Đông Bắc Mỹ. Thế nhưng, niềm tin đã biến lịch sử của biến cố này trong kinh nghiệm nhỏ bé của nó thành một phần của lịch sử cứu độ nơi cử hành Thánh Thể. Tất cả mọi thứ và nhất là mọi người trong cử hành đều dẫn nó bước đi trên những con đường mầu nhiệm để bước vào những “Thực Tại Thần Linh” (Divine Realities). Mầu nhiệm thiêng liêng của thời gian và không gian, khi một mình trong căn phòng nhỏ, trước cái điện thoại sẽ rất khác với việc kinh nghiệm tại nhà thờ – nơi mà từng người tham dự được nghe tiếng hát trầm bổng, được nắm tay nhau giơ lên cao trong lời cầu nguyện cụ thể, được ngửi thấy mùi hương trầm nghi ngút bay, được thấy những tiếng cười giòn tan hay giọt lệ mằn mặn của anh chị em đứng sát ngay bên. Đành rằng bất cứ ai hoà mình vào việc tham dự lễ qua chiếc điện thoại, họ vẫn bước vào “thực tại thần linh” để có kinh nghiệm sống ngoài thời gian và không gian. Nhưng khôn ngoan của những bậc hiền nhân dạy rằng, hành trình bước vào những mầu nhiệm của những thực tại thần linh luôn cần bạn bè đồng môn hơn là cái máy điện thoại thông minh.
  3. Có lẽ nhiều người nói thằng thôi này rất khó trong cử hành Thánh Thể. Đơn giản là nó cố làm hết sức để có những buổi cử hành Thánh Thể thật nghiêm chỉnh, thật đẹp và thật tự nhiên cả về nội dung và hình thức bên ngoài. Chính vì thế, thằng tôi luôn cử hành Thánh Thể như một “diễn viên” của “Vở Kịch Thần Linh”. Là diễn viên, nó cần phải làm tròn vai, tròn trách nhiệm và tốt hơn là làm với cả tâm tình và nhập vai. Nghĩa là nó phải “làm đủ” và “làm tròn” những gì thuộc về mình và chỉ làm những gì thuộc về mình mà thôi. Điều này cần chuẩn bị kỹ lưỡng và cần thực tập nhiều lần.  Dẫu biết rằng những người tham dự cử hành Thánh Thể trực tuyến đều có sự chuẩn bị để có thể làm tròn vai trò và trách nhiệm của mình. Nhưng dù có chủ ý và cố gắng, việc chuẩn bị tham dự Thánh Thể trực tuyến sẽ rất khác vì việc chuẩn bị đó đôi khi lại nhằm vào chiếc máy hơn là chính bản thân mình. Trong khi cử hành, thay vì là diễn viễn trong vở kịch thần linh, người tham dự qua điện thoại vô tình trở thành anh thợ máy.

Trước khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, nhà thờ vẫn còn nhiều chỗ trống. Nhiều người vẫn bỏ cử hành Thánh Thể. Việc tôn giáo còn vắng bóng sự chân thành. Khi đại dịch đến làm điều kiện sống thay đổi, và khi phải đối diện với những vấn đề giữa sự sống và sự chết, người tín hữu dậy lên lòng khao khát được cử hành Thánh Thể để gần Chúa hơn, nhưng họ lại phải cử hành với một cung cách khác xa với truyền thống là một mình một cõi trong nền văn minh cá nhân chủ nghĩa và chọn lựa những lễ trực tuyến có khi ở tận nơi mà mình không hề biết đó là đâu. Thử hỏi khi đại dịch qua đi, người tín hữu học được gì và có trở nên thánh thiện và gần Chúa hơn không?

Tất cả đều tuỳ thuộc vào từng người chúng ta. Xã hội sẽ đến ngày hết cách ly và người người cũng đang bàn tán về một cung cách sống mới để sống chung với virus. Người Kitô hữu cũng vậy, không biết có nhiều người hơn nhìn ra cơ hội để trở thành chứng nhân bằng cách chuẩn bị chính bản thân mình nhiều hơn để bước vào một lối sống với lòng khao khát hơn và một tình yêu lớn mạnh hơn dành cho việc tìm kiếm một kinh nghiệm cá nhân với Đức Giêsu. Để với kinh nghiệm này, từng thành viên của Giáo Hội không những làm cho đời sống mình được phong phú và tinh tuyền hơn, nhưng còn trở nên hấp dẫn người khác với vẻ đẹp thần linh mà họ kín múc nơi kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ Thần Linh.

Với những chia sẻ này, thằng tôi muốn dâng lời cầu nguyện cho tất cả mọi người được bình an trong lúc khó khăn này, cho đại dịch chóng qua và cho kinh nghiệm về Thánh Thể luôn được gìn giữ tinh tuyền như lần đầu Đức Giêsu cử hành một lần cho mãi mãi.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thứ Sáu Thánh – Cái Đẹp Tuyệt Đối và Một Lời Mời

Mỗi năm, thằng tôi nhận được một hai tin nhắn ngắn ngủi của một nữ tu bạn diễn tả sự hiệp thông trong cầu nguyện mỗi lần đọc được điều gì hay hay ở đâu đó (được viết bởi thằng tôi). Thằng tôi ngày nào cũng viết đôi ba dòng. Có khi nó viết tiếp những gì dang dở của hôm trước. Có khi nó viết vội vài dòng để luồng tư tưởng khỏi mất đi. Có lẽ sở thích viết là cách diễn tả của thằng tôi về những thực tại của cuộc sống đức tin, để vượt qua những khó khăn trong đời tu, hay của những đam mê kiếp người. Đôi khi những con chữ nhỏ nhoi, nguệch ngoạc như cây cọ quẹt lên vài tư tưởng cỏn con trong bức tranh cuộc đời đầy sắc mầu của cuộc sống dù đó là sắc xanh đỏ tím vàng, hay đậm nhạt sáng tối của ngày sống. Vui nó cũng viết. Buồn nó cũng viết. Bận rộn nó cũng viết. Rảnh rỗi nó cũng viết. Thằng tôi viết để nhớ lại những thất bại trong cố gắng của nó. Nó viết để trả lời cho nó những vấn nạn của tâm hồn nó. Nó viết để kiểm tra trách nhiệm của nó. Đôi khi thằng tôi viết để chia sẻ rằng nó được yêu thương và tha thứ dù nó xấu xí và bất xứng. Tương tự như thế, mỗi năm một lần vào khoảng đầu Xuân, thằng tôi nhận được cuộc gọi của một linh mục bạn hỏi thăm chuyện trên trời dưới đất. Chẳng có chuyện gì quan trọng, nhưng bạn bè chỉ nghe tiếng nói của nhau là biết nhau có ổn không. Có năm thì khóc, có năm thì cười. Hai đầu dây xa xôi mà như diện đối diện để kể ra những khó khăn vấp ngã và để giúp nhau tiếp tục sống cho đẹp. Hai người bạn này của thằng tôi chưa hề gặp nhau, nhưng trong năm 2020 họ bỗng có chung một đề nghị nho nhỏ về điều mà thằng tôi rất thích nghĩ đến, nói chuyện về, và im lặng ngắm nhìn: đó là cái Đẹp. Hai người bạn này biết rõ thằng tôi rất thích dùng “Cái Đẹp Tuyệt Đối” như niềm hy vọng để nó bám vào mà sống và vươn lên từng ngày. Thằng tôi bỗng dưng muốn viết về cái Đẹp này và thấy không có gì đẹp cho bằng ngày hôm nay, thứ Sáu Thánh (Good Friday)

Thứ Sáu Thánh là ngày Giêsu bị giết, bị treo trên thập tự giá – một ngày tuyệt đẹp. Ngày đẹp nhất trong tất cả mọi ngày. Không gì có thể diễn tả được cái đẹp của Giêsu trong ngày hôm nay.

Cái đẹp nhất chính là cái đơn giản nhất.

Không gì đơn giản hơn hai thanh gỗ xù xì, không cần được gọt bào cho dễ coi, được dựng lên như cây thập tự trên ngọn đồi cằn cỗi, lác đác những bụi cây với những cục đá dăm ngổn ngang. Không gì đơn giản hơn trên thân gỗ xù xì ấy là một thân thể tan nát với đòn roi mà không cần che đậy, một con người với thân xác được phủ bằng những vết thương đầy máu me mà không cần phải giấu diếm. Một thanh niên im lìm và bất động ráng vươn lên để thở với cái sức tàn tạ còn lại. Một khuôn mặt bầm sưng vì té úp mặt xuống đất với những dòng máu rỉ xuống từ những cái vương miện bằng gai nhọn trên đầu và đôi môi cố gắng mấp máy những lời cuối cùng nhưng làm cả vũ trụ ngạc nhiên trong tiếng thì thào tha thứ để đáp trả lại những thách thức của quyền lực và bạo hành. Một con người trung thành trọn vẹn và vâng lời đến giây phút cuối cùng cả ngay trong những lúc to chuyện với những thắc mắc ngổn ngang trong sự tin  thác tưởng chừng như vô lý.

Cái đẹp nhất chính là những gì nhỏ bé nhất.

Thứ Sáu Thánh 2020 có thêm một sự kiện đặc biệt có tên SARS-CoV-2 làm nên đại dịch COVID-19. Con virus nhỏ bé tí xíu làm cả thế giới hỗn độn cả lên và tối mù như điện đêm ba mươi bị đứt cầu chì. Mọi phương tiện giao thông vận chuyển được lệnh dừng lại, mọi hàng quán bị đóng cửa, mọi người bị cấm cung, mọi cử chỉ của tình huynh đệ  như bắp tay hay cái ôm xã giao bị cho là nguy hiểm. Thế giới ồn ào bỗng trở nên im lặng. Xã hội năng động và gần gũi của con người bỗng trở nên dè chừng và xa cách. Mọi người và mọi sự trên hành tinh xanh bỗng chậm lại và không thể dự đoán được gì vì nỗi sợ hãi về sự thăm viếng của thần chết có thể xảy đến với bất cứ ai và ở bất cứ nơi nào. Tại nước Mỹ văn minh và giàu có nhất thế giới này được dự báo là trung tuần tháng Tư này, tuần có ngày thứ Sáu Thánh là tuần thê thảm, chết chóc và tồi tệ nhất trong lịch sử của nó.

Không ai chối cãi sự thật lịch sử của hai biến cố đau thương này. Không ai phủ nhận những ảnh hưởng tốt-xấu của hai sự thật này mang lại cho bao thế hệ. Sẽ luôn có những phân tích đúng sai, những nhận định chủ quan theo cảm tính, những quyết định làm nên những ngã rẽ cuộc đời của nhiều con người khi hai biến cố này viếng thăm họ. Sẽ còn mãi nhiều giấy mực để ghi lại những lý luận, những tranh cãi trái chiều về hai biến cố này. Sẽ còn mãi vô vàn những cuộc đời đổi thay vì hai biến cố này. Sẽ còn mãi những dở dang khi xem hai biến cố này là đối tượng để phân tích.

Hai biến cố này có đẹp không?

Chắc chắn sẽ có những ý kiến hoàn toàn ngược nhau và lý luận rằng cái đẹp mang tính chủ quan. Có thể điều gì đó đẹp với bạn, nhưng không đẹp với tôi: “cái đẹp nằm ở con mắt của người xem,” thiên hạ vẫn thường nói thế mà. Thằng tôi này muốn mời bạn bỏ hết những lý luận và phân tích ấy ra hẳn bên ngoài con người bạn để ngắm nhìn hai biến cố này. Đơn thuần chỉ ngắm nhìn nó. Thực sự ngắm nhìn nó và thử hỏi xem hai biến cố này có đẹp không? Ngắm nhìn nó và để nó chỉ cho cách hiểu nó. Ngắm nhìn nó và để nó khơi lên cái khao khát đích thực của tâm hồn. Ngắm nhìn nó và để nó nói cho nghe cái lý từ bên trong. Khi ta ngắm nhìn một biến cố nào đó, ta sẽ dễ dàng phân biệt được sự thoả mãn mang tính chủ quan và những giá trị khách quan của sự việc. Như thế, trước một sự việc gì hay biến cố gì, có lẽ ngắm nhìn là điểm khởi đầu đúng để ta có thể hiểu nó theo cách của nó, biết được những khao khát thầm kín, và thốt lên những giá trị bên trong của từng sự việc hay biến cố đó. Những điều này sẽ lớn dần lên khi ta đối xử với sự việc nào đó/biến cố nào đó như là cái đẹp vì chỉ có cái đẹp mới làm ta ngắm nhìn nó mà quên đi những lý luận, những tiêu chuẩn, những phân tích chủ quan. Khi ngắm nhìn một biến cố hay một sự việc, có thể có những bất mãn hay thoả mãn mang tính chủ quan; nhưng khi trung thực với bản thân trong khi ta ngắm nhìn nó một cách cẩn thận và chăm chú, ta thấy mình có nhiều điểm tương đồng cả với người thoả mãn và người bất mãn, về những giá trị mà biến cố đó mang lại. Những giá trị này sẽ lọc lựa những người ngắm nhìn nó để trao cho họ sứ vụ của riêng nó.

Quay lại thực tế của trung tuần tháng Tư, năm 2020 này, đặc biệt là ngày thứ Sáu Thánh và những ngày thống trị của con virus SARS-CoV-2.

Rất có thể thi thể máu me và thương tích của Giêsu không làm bạn thoả mãn và đôi khi ghê tởm; nhưng bạn không thể phủ nhận giá trị tình yêu mà Giêsu mang lại. Giá trị tình yêu đó làm cho Giêsu vẫn sống và vẫn tiếp tục làm vũ trụ ngạc nhiên về tình yêu và sự tha thứ của Thượng Đế dành cho con người. Một tình yêu nhưng không dành cho con người dù con người có từ chối. Một sự tha thứ dành cho con người dù con người có cố tình phạm tội. Ngày thứ Sáu Thánh được cử hành hàng năm để mọi người có thể chiêm ngắm nó. Uớc mơ nhỏ bé của việc cử hành là để cho ai ngắm nhìn hiểu được thế nào là yêu và tha thứ, là để cho ai ngắm nhìn nó biết được khao khát đích thực của tâm hồn mình, là để cho ai ngắm nhìn nó có được sự lý luận của tình yêu và tha thứ từ bên trong. Khi khoảng khắc “à há” của việc chiêm ngắm xuất hiện, thì cũng là lúc người ngắm nhìn nó bắt đầu thay đổi để sống đẹp hơn và cao hơn. Biết đâu đó, ngày thứ Sáu Thánh sẽ chọn ta để làm cho tình  yêu và sự tha thứ của Thượng Đế được biết đến nhiều hơn và lớn dần lên nơi khu phố ta đang sống

Con virus nhỏ bé chắc chắn làm cuộc sống hiện tại không hề thoải mái và rất bất tiện. Chỉ số về sự thoả mãn trong cuộc sống chung với con virus có lẽ sẽ là số âm; nhưng bạn không thể phủ nhận là nó tạo điều kiện cho ta có nhiều giờ hơn để có thể chọn nói truyện với những người thân yêu, chọn đi tản bộ để nghe được tiếng chim hót bên hiên nhà mà bao ngày ta tưởng như không có, chọn sống sạch sẽ hơn và cẩn thận hơn để có được một môi trường trong lành và những tương quan sạch sẽ, chọn  lối sống chậm để nhận ra cái ưu tiên lớn nhất của cuộc sống, và nhất là chọn yêu cuộc sống với những điều vô hình mà tạm gọi là mầu nhiệm, chọn việc phục vụ hơn nỗi sợ hãi mà nó làm cái tôi đóng kín và co cụm lại. Khi có thêm cơ hội để tập chọn lựa những điều này, thì cũng là lúc ta trở nên trọn vẹn hơn với đời và đẹp hơn với người.

Thằng tôi sẽ cử hành thứ Sáu Thánh trong thinh lặng để ngắm nhìn kỹ hơn một tình yêu và sự tha thứ với tin tưởng là tình yêu và sự tha thứ sẽ chọn nó để nhiều người biết hơn về thứ Sáu Thánh.

Thằng tôi cũng đã chọn sống chậm lại để ngắm nhìn vẻ đẹp của trăng sao, ngắm nhìn sắc hoa xuân nho nhỏ, ngắm nhìn những cố gắng để sống chậm, chọn nghe những  bản giao hưởng vĩ đại, sống đẹp trong phục vụ để xua đi những lo lắng sợ hãi của con virus nhỏ bé vô hình với những người xung quanh nó. Thằng tôi hy vọng biến cố COVID-19 chọn nó để nói lời hy vọng và sống vô vị lợi hơn.

Mỗi năm, ngày thứ Sáu Thánh luôn toát lên vẻ đẹp và Cái Đẹp tuyệt đối này luôn lôi thằng tôi sống nội tâm hơn, tin tưởng hơn để tập yêu và tập tha thứ nhiều hơn. Cuộc đời vẫn đẹp và tràn đầy hy vọng dù virus SARS-CoV2 có xuất hiện. Thằng tôi học bài học ngắm nhìn và muốn hỏi bạn là những ngày vừa qua, bạn có thấy trăng rằm của mùa Xuân 2020, có nghe tiếng chim hót bên hè, có nhấc điện thoại để nói lời yêu thương, có căng lồng ngực đón làn khí trong lành, có nhâm nhi ly trà và lắng nghe tiếng du dương của bản giao hưởng, có sống sạch hơn và chậm hơn… Nếu bạn đã có những điều đó, chắc chắn bạn không có giờ để sợ và lo lắng. Bạn đã  được biến cố cuộc đời chọn bạn để lan toả hy vọng và lối sống đẹp. Điều mà ông tổ Âutinh luôn nói: “hãy trở thành những con người của sự phục sinh”.

Thứ Sáu Thánh mãi là một ngày đẹp nhất và mọi biến cố trong đời luôn là một lời mời. Cách ta đáp trả lời mời bằng cách ngắm nhìn để thấy mọi sự từ bên trong sẽ làm cuộc đời ta đẹp lên rất nhiều. Cách đáp trả lời mời gọi bằng cách nhìn thấy những giá trị tích cực sẽ làm cuộc đời ta tràn trề hy vọng và niềm vui. Phải chăng khi bắt đầu bằng ngắm nhìn, ta có lý luận và phân tích đúng hơn, đồng thời có luôn cả cuộc sống cao hơn mỗi ngày, đẹp hơn mỗi ngày với hy vọng tràn trề và niềm vui tròn đầy.

Thứ Sáu Tuần Thánh 2020

Mùa Virus SARS-CoV-2

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khuôn Mặt của Ân Sủng

(Tác giả viết bài này cho bản tin Ultreya của Phong Trào Cursillo Ngành Việtnam  Giáo Phận San Jose, CA theo yêu cầu của Ban Biên Tập , tháng Chín, 2019)

Trung tuần tháng Tám, những tia nắng mùa hè, những ngọn gió biển, và những con sóng rì rào của bờ Thái Bình Dương của Trại Francis đón hơn một trăm người chúng tôi về không phải để trốn cái nóng mùa hè, không phải để tung tăng cùng gió biển, và không phải để trốn xa thị thành chật trội. Chúng tôi đến trại để gặp nhiều người có tên Ân Sủng và học yêu một người có tên Giêsu.

Khung cảnh rất an bình khiến từng người cảm thấy nhẹ nhàng với những hành trang nặng nề của quá khứ mà chỉ từng người mang theo mới biết nó nặng thế nào. Những người chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đã rộng lượng về tài năng, thời gian và tất bật chuẩn bị để những người bước vào Trại Francis không lỡ đi cơ hội gặp gỡ những người đông hành và cũng là bạn đồng môn trong lớp học yêu.

Với cái quá khứ mang nhiều tâm sự, cái tương lai vượt khỏi tầm tay với, mọi người về trại để học bài học yêu là sống cho trọn vẹn thời gian hiện tại, sống tận cùng cái tình để buông bỏ tất cả những gì thuộc về cái tôi mà hơn một lần nó bị che giấu bởi những thước đo và tiêu chuẩn trần thế. Với công việc bận rộn kéo cuộc đời xuống với cơm áo gạo tiền, mọi người về gặp nhau để ngẩng đầu lên, để nhìn nhau và tập cười với nhau trong những khó khăn và thử thách rất đời thường. Với những lo lắng tất bật và lòng ham muốn chạy ngược thời gian để về lại quá khứ vàng son, mọi người về để quên đi thời gian để sống trong tình yêu và với một tình yêu.

Với tư cách linh hướng trong khoá học đầu tiên và phụ tá linh hướng trong tuần thứ hai, điều làm tôi vui và hạnh phúc là thấy sự biến chuyển của những anh chị em tôi. Sự biến đổi của một người học yêu là họ trở thành tình yêu. Có lúc, tôi thấy anh chị em tôi như những “tình yêu” di động. Nơi họ, tôi không còn thấy tóc thẳng tóc quăn, áo xanh áo đỏ, mập cao ốm lùn, … Với những tình yêu di động ấy, cả trại lấp lánh những âm hưởng của tình yêu được lan toả từ một Tình Yêu mà học đang học.

Với sự đa dạng các tham dự viên, tôi thấy được sự cộng hưởng của họ trong cùng một lối nghĩ suy khi tôi mời họ nhìn vào ánh mắt của Tình Yêu. Ánh mắt của Tình Yêu trở thành con đường nhanh nhất để mọi người bước đến một cách chính xác cái cốt lõi của đời mình. Nơi cốt lõi thánh thiêng đó, từng người ngụp lặn trong cuộc gặp gỡ chính mình. Họ gặp lại họ, rõ như chưa bao giờ gặp và nhận ra rằng cái thằng tôi thẳm sâu trong cõi lòng ấy bỗng trở nên thân thương hơn, đáng yêu hơn, đôi lần đáng trách hơn, đau đớn hơn họ nghĩ, và cũng có lúc đáng thương hơn họ tưởng bên dưới cái hào hoa phong nhã của những chàng trai hay những yểu điệu thục nữ của những cô gái.

Cái điểm hẹn của thằng tôi ấy cũng là nơi từng người gặp gỡ Tình Yêu. Tình Yêu gọi họ bắt đầu một hành trình mới. Nơi hành trình này, họ không một mình loay hoay với cái tôi vốn có, nhưng hành trình họ giờ đây có những người bạn đồng hành. Những buồn vui sướng khổ trong cái túi đời của từng người dường như nhẹ hẳn với những  cánh tay sẵn lòng vươn tới họ. Khi học yêu, Tình Yêu làm cho túi đời lớn dần lên đủ chỗ cho tất cả mọi người; và cũng có một chỗ rất riêng cho cái tôi để nó chấp nhận những yếu đuối của thân phận con người.

Lần đầu tiên tôi hiện diện với khoá học Cursillo tại Giáo Phận San Jose, tôi làm những công việc như tôi thường làm. Mỗi nơi tôi bước qua, tôi đều cảm nhận được những nét rất riêng của từng địa phương; nhưng khi tôi quan sát, gặp gỡ, trò truyện với những anh chị em dự khoá và trợ tá, tất cả mọi nơi đều toát lên một nét tương đồng. Cái mẫu số chúng của tất cả mọi người chính là Đặc Sủng của Phong Trào. Đặc sủng dẫn họ đến trung tâm của cái Đạo Tình và dạy họ học yêu để trở thành người tình của Thiên Chúa. Khi đến với cái cốt lõi này, mọi người đều cảm nhận rằng mình được yêu, được yêu thật nhiều dù biết rõ mình có những yếu đuối, lỡ lầm, hay những tỗi lỗi. Được tắm gội trong tình yêu, từng người muốn đẹp hơn, xứng đáng hơn với Tình Yêu ấy. Từng người lại bước vào cõi lòng mình để bắt đầu một hành trình mới, hành trình trở về để làm đẹp mình với những nhân đức, biến mình mỗi ngày một xứng đáng hơn với sự thánh thiện của Thiên Chúa bằng việc cậy trông vào ơn thánh và cố gắng nên thánh mỗi ngày.

Trong hai cuối tuần này, tôi cũng gặp nhiều khoảng khắc “a há” của nhiều người. Cái khoảng khắc làm từng người “ngộ” ra điều họ tìm kiếm, điều họ khắc khoải, điều họ chờ mong. Những khoảng khắc đó làm cho từng người lấp lánh trên khuôn mặt họ những nét chấm phá của “ân sủng”. Khuông mặt anh A, chị B vẫn không thay đổi, nhưng Ân Sủng biến những khuôn mặt đó thành những khuôn mặt đáng yêu.

Phương thức của Cursillo tạo nên một sự “cộng hưởng ân sủng” làm cho môi trường sống trở nên những điểm đến cần khám phá. Từng Cursillitas với khuôn mặt của ân sủng, giờ đây quyết tâm sống như những “tình yêu” di động trong môi trường sống của mình. Sau hai cuối tuần ở đây, những tham dự viên nói thêm một ngôn ngữ mới mà chữ đầu tiên là “cursillo.” Nó có thể rất xa lạ với nhiều người, có thể không nhiều người hiểu nó là gì, và đôi khi nó làm cho một số người cảm thấy khó chịu; tuy nhiên, ngôn ngữ này giúp từng tham dự viên trở về lại những kinh nghiệm sống ba ngày và họ sẵn sàng chia sẻ ngôn ngữ này với mọi người bằng cách là bạn tốt, làm bạn với mọi người và cùng bạn bước về một Tình Yêu có tên Giêsu.

Hai tuần trôi qua với dư âm đọng lại của những cuộc gặp gỡ bên bờ Thái Bình Dương rì rào tiếng sóng, tôi nhớ đến những câu thơ của Hàn Mạc Tử diễn tả một vẻ đẹp của điểm hẹn tình yêu và xin phép ông viết lại những con chữ của ông cho một kinh nghiệm của người học yêu và ngắm nhìn những khuôn mặt ân sủng:

“Anh/em hãy làm thinh chớ nói nhiều,
lặng nghe tiếng hát của tình yêu,
lặng xem tha thứ vui nhịp bước
Ân sủng diệu vời giải nghĩa yêu.”

Cursillo là vậy, là lặng thinh để nhận ra mình được yêu, là tập thứ tha bằng cách để mình được tha thứ, và để sự quảng đại phục vụ trong ân sủng cất lời giải thích cho cuộc sống hằng ngày. Hai cuối tuần vừa qua đã giúp tôi xác tín hơn nữa Cursillo là một ân sủng vì đã biến những khuôn mặt của tham dự viên thành những khuôn mặt ân sủng, và học  bài học không có tốt nghiệp chính là yêu.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phong Trào Cursillo – Một Ước Mơ và Cố Gắng Nên Thánh

(Tác giả viết bài này cho Tập Kỷ Yếu mừng 20 năm Phong Trào Cursillo Ngành Việtnam tại Tổng Giáo Phận Boston, MA – 2019)

Mùa hè năm 2012, khi còn đang làm việc tại Đại Học Đức Mẹ Lên Trời tại thành phố Worcester, tôi có nhận một cuộc điện thoại xin cho Phong Trào Cursillo tổ chức tĩnh tâm cuối tuần tại trường vào kỳ nghỉ giữa kỳ của học kỳ Mùa Thu 2012. Vì các sinh viên đi nghỉ, nên có chỗ và cứ nghĩ là tĩnh tâm, nên tôi nhận lời. Sau đó hai tuần, tôi có cuộc hẹn với một anh, tự xưng là “Khoá Trưởng” đến để bàn thêm chi tiết. Sau cuộc họp, tôi được mời dự khoá và làm “linh hướng” cho khoá. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ là một cuộc tĩnh tâm bình thường. Nhưng khi trải qua cuối tuần đó với các anh em tham dự, tôi biết Chúa muốn tôi học nhiều từ họ về Một Ước Mơ và Cố Gắng Nên Thánh.

Thời gian trôi nhanh, tôi thay đổi chỗ ở và công việc. Tôi thỉnh thoảng đến họp nhóm nhỏ cho đến khi nhận lời mời làm linh hướng cho phong trào Cursillo tại Tổng Giáo Phận Boston, Hoa Kỳ, tôi có cơ hội học hỏi về Phong Trào Giáo Dân này. Tôi buộc mình phải hiểu về nó hơn bằng cách đọc những tài liệu căn bản về nó. Việc này làm tôi thực sự ngạc nhiên. Nó giúp tôi soạn bài cho nhiều cuộc tĩnh tâm với Phong Trào theo nhip của Giáo Hội và cũng từ đó, những bài nói chuyện của tôi ở chỗ này chỗ khác đều mang chút nét gì đó của Phong Trào.

Tại sao vậy?
Có thể trả lời rằng vì Phong Trào Cursillo là một cố gắng để “trở nên người Kitô Hữu trọn vẹn hơn, tốt hơn, thánh thiện hơn ở giữa đời.” Nó bắt đầu từ khao khát và ước mơ nên thánh của một người Tây Ban Nha: Eduardo Bonnín. Là một giáo dân, Eduardo muốn sống ơn gọi của Bítích Rửa Tội một cách nghiêm túc. Ông muốn sống trong lòng Giáo Hội với sự năng động của mình như một người tín hữu. Với ao ước đó, Chúa Thánh Thần đã chúc phúc cho ông và dùng ông để khởi sự một Phong Trào Giáo Dân trong lòng Giáo Hội. Ông đã dùng chính kinh nghiệm của mình để giúp các tín hữu và cùng các tín hữu biến ước mơ nên thánh thành sự thật qua cuộc sống.

Bắt đầu với những bạn của mình ở Mollorca và qua kinh nghiệm tình bạn, ông nhận ra là để biết Đức Giêsu Kitô nhiều hơn và kỹ hơn, cách tốt nhận là trở thành bạn của Đức Giêsu Kitô. Để trở thành bạn, học biết về bạn là điều phải làm, ông quy tụ vài người bạn với khoá học nhỏ về Giêsu và Tôn Giáo của Ngài và đây cũng là ý nghĩa của từ “Cursillo” trong tiếng Tây Ban Nha nghĩa là một khoá học nhỏ (ngắn) và khoá học cuối tuần ba ngày ra đời.

Khoá học ngắn gọn và nội dung chính là giới thiệu cho người Kitô hữu “bản đồ của hành trình đức tin”, đó chính là Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội của Ngài. Hành trình đức tin của mỗi người sẽ rất riêng vì từng người được tạo dựng rất riêng bởi tình yêu Chúa. Tuy nhiên, hành trình này cũng rất chung vì ai ai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa nhân từ và thương xót. Trên hành trình đức tin này, người Kitô hữu không lẻ loi đơn độc một mình, nhưng có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ mà Giêsu gọi cộng đoàn đức tin này là cộng đoàn của những người thân hữu (bạn hữu). Phong trào Cursillo trở thành một chiếc cầu nối những vòng tay của những người bạn. Bước vào phong trào là bước vào một tập thể, nơi đó từng người thành viên cố gắng sống “một tay níu lấy Chúa, một tay cầm lấy anh em” để nới rộng lên mãi vòng tròn của tình yêu, của tha thứ và của tình bằng hữu.

Là một thành viên của phong trào trong trách nhiệm của một người linh hướng, tôi học nhiều bài học từ những người bạn trong đức tin của tôi. Tôi luôn cảm nhận sức nóng của lời cầu nguyện mà anh chị em tôi đã cầu nguyện cho tôi. Tôi luôn được nâng đỡ bởi những bàn tay níu lấy tôi khi tôi đứng trước những cám dỗ và dịp tội. Bằng những ân cần lo lắng cho nhau, tôi kinh nghiệm được tình yêu Chúa qua anh chị em tôi.

Cusillo là vậy – Là những vòng tay nối dài những vòng tay. Giáo hội là vậy – Là những người kể cho nhau nghe về những kinh nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, Thiên Chúa tha thứ cho họ.

Cursillo là đây – Là những cố gắng trở thành bạn hữu với bất cứ mọi người, nhất là những người xa lạ, những người bị khinh bỉ, những người rất nghèo theo nghĩa rộng nhất của từ này. Giáo hội là đây – Là những người lữ hành nơi mặt đất xinh đẹp này, tận hưởng những vẻ đẹp của sáng tạo; nhưng cũng vươn lên và mở lòng mình ra với những ân sủng của trời cao để tập tành sống như những công dân của Nước Trời.

Cursillo là sống – Là kinh nghiệm về một con người có tên Giêsu. Giáo hội là sống những cử hành cụ thể về một con người. Giáo hội sống để làm những gì để nhớ đến một con người. Giáo hội sống để trở thành dấu chỉ của một con người, một tình yêu; chứ không phải một mớ lề luật với những điều được làm hay không được làm.

Cursillo mang trong mình sự nhiệm mầu của trời cao nơi những con người cụ thể. Đối tượng của Cursillo là con người với mục đích cao cả nhất của nó là sống một cuộc đời cao thượng. Giáo hội là một mầu nhiệm của một tình yêu cần khám phá, của một sự thứ tha cần phải kinh nghiệm. Đối tượng của Giáo hội chính là con người có tên Giêsu với mục đích trở thành bí tích của ơn cứu độ – một bí tích của tương giao đất trời.

Dù là một linh mục trong vai trò linh hướng cho phong trào giáo dân, tôi chia sẻ trách nhiệm với họ trên nền tảng Phép Rửa. Tôi hướng dẫn họ sống trong lòng Giáo hội và họ giúp tôi nhận ra tình yêu của Chúa trong đặc sủng của phong trào. Càng giúp Cursillo sống đúng đặc sủng của mình, tôi thấy mình được tắm gội trong những ước mơ và cố gắng nên thánh của các tín hữu Chúa. Tuy không xa lạ, nhưng Cursillo đã tưới mát những tâm hồn nguội lạnh với ân sủng Chúa, đã làm nhiều người dừng lại suy nghĩ để quay trở về với ước mơ đẹp nhất của một con người: ước mơ dần dần trở nên thánh thiện.

Việc kỷ niệm 20 năm phong trào hiện diện tại Tổng Giáo Phận Boson là một cơ hội cho từng thành viên nhìn lại hành trình của mình với những ân sủng của Chúa. Tôi xin chúc mừng mọi Cursillitas của Tổng Giáo Phận. Tôi cám ơn từng người và tất cả mọi người đã nhắc nhở tôi về một ước mơ và những cố gắng nên thánh trong từng ngày sống. Xin Chúa tiếp tục gìn giữ và chúc lành cho Phong Trào tại Tổng Giáo Phân Boston này.

DeColores!

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Linh Hướng cho Phong Trào Giáo Dân

Đây là bài nói chuyện của tác giả ở Đại Hội Cursillo Toàn Quốc Hoa Kỳ 2019

(Lý Thuyết và Thực Hành)

1. Tầm quan trọng của linh hướng

Chúng ta không cần phải chứng minh tầm quan trọng của linh hướng. Đó là một điều đương nhiên cần thiết cho đời sống thiên liêng của một ai đó hay của một phong trào nào đó để vươn tới sự hoàn thiện Kitô giáo. Linh hướng hiện hữu trong lòng Giáo hội ngay từ thưở ban đầu. Nó là một nghệ thuật theo nghĩa là một khoa học thực hành, được hướng dẫn bởi tiêu chuẩn khôn ngoan siêu nhiên cho một (người) phong trào cụ thể, và theo những nguyên tắc thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo. Nó được thực hành dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào các trường phái khác khau. Việc linh hướng được bắt đầu ngay khi một người có quyết tâm nên thánh và được đồng hành trong suốt quá trình ấy. Tương tự như vậy, một phong trào  giáo dân trong lòng Giáo hội cần được linh hướng ngay từ ban đầu vì nó được sinh và tồn tại nhằm đưa những thành viên mỗi ngày có mối quan hệ mật thiết hơn với Chúa.

Chúng ta cũng không phải bàn là vị linh hướng có phải là người có chức thánh hay không (linh mục hay phó tế).  Hành trình nên thánh là những quyết định thuộc về lương tâm, mà theo truyền thống ngàn đời của Giáo hội, Giáo hội cấm bất cứ những ai không phải là linh mục chất vấn những vấn đề thuộc lương tâm người khác. Áp dụng vào cho một phong trào giáo dân trong lòng Giáo hội, việc thánh hoá các thành viên qua những sinh hoạt cụ thể cần đến sự hướng dẫn của những thừa tác viên của Giáo hội, và nhất là việc cử hành các bí tích (Giải tội và Thánh Thể) như là công việc chung cao quý nhất  của cả Giáo hội trên hành trình tiến tới sự trọn lành.

Đối với Cursillo, sinh hoạt quan trọng cần có linh hướng là khoá Ba Ngày và các sinh hoạt của Ngày Thứ Tư (Ultreya và Trường Lãnh Đạo)

2. Mục đích của linh hướng

Mục đích cuối cùng của linh hướng là khám phá ra sự thật về chính mình để có thể trưởng thành một cách tốt trọn vẹn. Việc tìm kiếm sự thật dẫn đễn sự tự do nội tâm cao nhất có thể và trong sự tự do đó, những cam kết, đặc biệt và cam kết vâng phục ý muốn của Thiên Chúa cho chính mình/phong trào. Sự vâng phục này là một sự đồng ý hoàn toàn và là một sự chọn lựa với ý thức và tự do. Chính vì thế, việc tìm kiếm sự thật đòi hỏi người được linh hướng/thành viên của một phong trào phải có kiến thức về chính mình và phong trào của mình, để từ đó nhận ra ý Thiên Chúa dành cho mình là gì và nơi mà Thiên Chúa muốn hướng dẫn mình đến, để từ đó có thể vâng phục Thiên Chúa cách tron vẹn.

Mục đích của linh hướng giúp cho thành viên của một phong trào luôn thống nhất giữa những quyết định hay chọn lựa với ơn gọi và đặc sủng mà mình được mời gọi. Mục đích của linh hướng làm cho thành viên của phong trào thông nhất được đời sống của mình và những gì mình thực sự muốn.

Cuối cùng, mục đích của linh hướng giúp thành viên của một phong trào nhìn ra những chọn lựa của mình đáp ứng những đòi hỏi nào của đặc sủng phong trào, và nhất là những đòi hỏi của Tin Mừng mà mình được mời gọi làm chứng.

3. Linh hướng: một món quà và một nghệ thuật

Việc linh hướng vừa là một món quà, vừa là một nghệ thuật.

3.1. Món quà

Khi nói đến món quà, nghĩa là ta đón nhận được nó và không có quyền đòi hỏi nó. Nó là món quà vì tiến trình của nó hoàn toàn dựa trên sự tự do. Linh hướng là công việc đụng đến nơi sâu thẳm nhất của con người và của ơn gọi Kitô hữu. Đây là một mầu nhiệm và hơn thế nữa, linh hướng không thể thiếu một nhân vật khác là Thánh Thần. Nhân vật này hiện diện trong toàn bộ tiến trình và là người cất tiếng nói cuối cùng trong sự trao đổi giữa vị linh hướng và (người) phong trào được linh hướng.

Việc linh hướng cũng là một món quà của sự tin tưởng và cởi mở. Chính trong sự tin tưởng mà các tiến trình của linh hướng có độ dầy của suy niệm. Chính trong sự cởi mở mà sự trưởng thành được gieo mầm và lớn dần lên trong các quyết định.

3.2. Một nghệ thuật

Linh hướng luôn là một nghệ thuật vì nó là một hành trình khám phá những con người, chứ không phải là việc sửa chữa những vấn đề cho phù hợp với thời cuộc. Đứng trước một con người/phong trào, vị linh hướng đứng trước một mầu nhiệm cần khám phá, chứ không phải là một vấn đề cần được giải quyết. Để tiếp cận một mầu nhiệm, con đường nghệ thuật luôn được chọn vì nơi đó, sự uyển chuyển và năng động được xem như thế mạnh để có thể khám phá bao nhiêu có thể một thụ tạo có khẳ năng vươn lên qua quyết định trở lại con đường nên thánh.

Linh hướng là một nghệ thuật trở thành người môn đệ, chứ không phải là một công việc đào tạo một chuyên ngành.

Linh hướng là một nghệ thuật bước theo sự hướng dẫn của người khác mà không mất đi sự tự do trọn vẹn của chính mình. Cursillo, là một phong trào giáo dân, giáo dân là người quyết định theo sự hướng dẫn của vị linh hướng và cuối cùng là sự hướng dẫn của chính Chúa Thánh Thần, nhưng phong trào không hề mất đi sự tự do quyết định của riêng mình.

Linh hướng là một nghệ thuật lắng nghe để đón nhận và để bước vào một mối quan hệ thánh thiện và tri kỷ. Chính vì thế, đỉnh cao của linh hướng là nghệ thuật khiêm nhường để cho phép chính mình/phong trào hiểu được cuộc sống như nó là, hiểu được tình yêu như nó là, hiểu được một ơn gọi như nó là, hiểu được đời sống cầu nguyện như thế nào… và trong những sự hiểu biết ấy, một tâm hồn/phong trào có thể lớn dần lên trên đường nhân đức để tiến tới sự hoàn thiện Kitô giáo.

Với những điều trên, chúng ta cần một vị linh hướng như thế nào?

4. Những đặc tính của một linh hướng

4.1. Hiểu biết

Hiểu biết về thần học tín lý để tránh những vần đề sai lạc về đức tin.

Hiểu biết về luân lý để có thể hướng dẫn những gì liên quan đến sự hoàn thiện.

Hiểu biết về tâm lý để hướng dẫn và nhận ra những sự bất bình thường tâm lý.

Vị linh hướng của phải hiểu biết sự giới hạn của mình để biết rõ trách nhiệm và chịu trách nhiệm của mình trước mặt Chúa và Thánh Thần. Vị linh hướng cần hết sức cảnh giáo đến những sinh hoạt và những thông tin chuyên môn để sẵn lòng từ chối những gì mà mình không thể làm được.

4.2. Khôn ngoan

Đây làm một trong những đặc tính quan trọng nhất của vị linh hướng. Vị linh hướng cần có sự khôn ngoan trong phán đoán để có sự rõ ràng trong lời khuyên, và kiên định trong thuyết phục sự vâng phục.

Vị linh hướng không đưa ra những quyết đinh, nhưng đưa ra những lời khuyên chuẩn mực. Vì thế, sự khôn ngoan giúp vị linh hướng nhận ra những hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp cụ thể vào một thời điểm cụ thể. Những lời khuyên khôn ngoan được đưa ra thường toát lên sự thấu cảm với đương sự và sự kiên nhẫn trong việc lắng nghe đương sự.

Khôn ngoan làm cho lời khuyên của vị linh hướng rất rõ ràng từ trong suy nghĩ đến lời nói. Sự rõ ràng trong lời khuyên dẫn đến sự thẳng thắn và không có chút vị kỷ nào. Sự khôn ngoan luôn giúp vị linh hướng luôn nhớ là mình làm việc nhân danh Thánh Thần trong việc hướng dẫ các linh hồn. Thánh Thần luôn nhiệt thành uốn nắn các tâm hồn với sự hiền hoà, thông cảm; nhưng cũng rất cương nghị và thẳng thắn.

Khôn ngoan làm cho vị linh hướng luôn độc lập và đứng về phía sự thật dù có những nguy cơ bị lèo lái. Sự nghiêm khắc trong linh hướng phải phù hợp với đặc sủng, với ơn gọi và với hoàn cảnh của phong trào trong một hoàn cảnh cụ thể; để việc yêu cầu một phong trào vâng phục Thiên chúa không gây chia rẽ là làm nhụt chí các thành viên.

5. Kinh nghiệm

Kinh nghiệm là một điều đáng quý của vị linh hướng. Đôi khi vị linh hướng có những giới hạn trong kiến thức, nhưng kinh nghiệm sẽ bù đắp lại. Kinh nghiệm ở đây chính là kinh nghiệm thiêng liêng của chính Ngài với Thánh Thần và với cố gắng nên thánh.

Một vị linh hướng có kinh nghiệm là một vị luôn nhớ mình là dụng cụ của Thánh Thần Chúa và kinh nghiệm giúp vị linh hướng luôn nhớ chính bản thân mình cũng phải hoàn toàn quy phục vào sự hướng dẫn của Thánh Thần. Chính kinh nghiệm không làm cho vị linh hướng trở thành những rào cản đối với ơn thánh của Chúa đang hoạt động trong phong trào.

6. Lòng đạo đức khiêm nhường

Vị linh hướng phải thấm nhuần bởi những chân lý căn bản của người Kitô, luôn đặt Chúa Kitô là trọng tâm và mọi sự hướng về vinh quang Thiên Chúa. Lòng đạo đức giúp vị linh hướng có kinh nghiệm được yêu thương, được tha thứ, được lớn lên trong ân sủng và tương quan với Chúa. Khi đó, vị linh hướng sống siêu thoát khỏi những sự phàm tục để nhìn rõ hơn những gì cần thiết cho người/phong trào đến xin linh hướng.

Lòng đạo đức giúp vị linh hướng có lòng nhiệt tâm trong việc thánh hoá các linh hồn. Thánh Phaolô đã diễn tả sự nhiệt tâm này bằng việc “trở nên mọi sự cho mọi người,…vui với người vui, khóc với người khóc.” (Cf. 1 Cor. 9:22). Lòng đạo đức này giúp vị linh hướng vượt qua được những khó khăn trong linh hướng và sẵn sàng để mọi sự bên ngoài chính mình (Let go) và không để những khó khăn đó trở thành gánh nặng.

Lòng đạo đức giúp vị linh hướng luôn đặt mình trước mặt Chúa để biết sống khiêm nhường, và đôi lúc phải nghi ngờ chính mình khi cần. Sự khiêm nhường sẽ giúp vị linh hướng tránh đi những sai lầm không đáng có trong khi giúp một người/phong trào tiến gần đến Chúa. Sự khiêm nhường cũng tránh cho vị linh hướng đặt mình là trọng tâm của tiến trình nên thánh. Chỉ duy một mình Đức Kitô là trung tâm và Ngài sẽ dẫn chúng ta đến Thiên Chúa là Cha của ngài.

7. Vô vị lợi

Việc linh hướng chỉ có lợi ích khi nó có phát xuất điểm là sự vô vị lợi. Vị linh hướng không hướng dẫn để thoả mãn bản thân hay nhận bổng lộc gì; nhưng chỉ dẫn họ đến Chúa. Vị linh hướng luôn phải hết sức để ý khi thấy Chúa hiện diện và làm việc với người được linh hướng, thì chính mình phải rút lui để Chúa và họ làm việc.

Sự vô vị lợi nói đến đặc tính tự do của việc linh hướng. Chính sự vô vị lợi này làm cho sự tự do này được tôn trọng một cách tối đa. Khi một ai đó/phong trào cần một sự hướng dẫn chuyên môn hơn, vị linh hướng sẵn lòng chuyển giao hoặc không hề khó chịu khi ai đó/phong trào nào đó xin được thôi việc linh hướng với mình.

Trên đây là lý thuyết về linh hướng. Trong lý thuyết này, có những bổn phận được đưa ra cho vị linh hướng và người/phong trào đến xin linh hướng. Đó là gì?

8. Bổn phận của một vị linh hướng

8.1. Biết người/phong trào mình hướng dẫn

8.2. Đưa ra sự chỉ dẫn

8.3. Khuyến khích người/phong trào xin linh hướng

8.4. Đồng hành với người/phong trào xin linh hướng

8.5. Sửa chữa những khuyết điểm

8.6. Hướng dẫn theo từng giai đoạn một cách tiệm tiến

8.7. Cẩn mật

9. Trách nhiệm người/phong trào xin linh hướng

9.1. Chân thành

9.2. Sẵn lòng với những hướng dẫn để tìm ra quyết định đúng nhất có thể

9.3. Kiên trì

9.4. Cẩn mật

10. Tương quan giữa vị linh hướng và người/phong trào được linh hướng

10.1. Kính trọng

10.2. Tin tưởng

10.3. Có tình yêu siêu nhiên

11. Nội dung của linh hướng

Có một sự khác biệt căn bản giữa linh hướng cho một người và cho một phong trào.

Đối với một phong trào, ngoài những sinh hoạt thường kỳ và định kỳ của phong trào, vị linh hướng nên sẵn lòng:

11.1. Là sự liên kết giữa phong trào và các vị thẩm quyền trong Giáo hội

11.2. Giúp đỡ những thành viên của phong trào, đặc biệt là những thành viên có trách nhiệm với phong trào.

11.3. Tổ chức những buổi học hỏi và tĩnh tâm nhằm đắp ứng nhu cầu tâm linh của các thành viên phong trào theo lịch phụng vụ của Giáo hội.

 July 2019.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thứ Năm Thánh

Không có một ngày nào và cử hành nào lại mang tính Công Giáo hơn ngày thứ Năm Thánh, ngày khởi đầu cho một cử hành kéo dài trong ba ngày. Cử hành ngày hôm nay có tên gọi là “Bữa  Tiệc Cuối Cùng.”

Khi mặt trời khuất bóng, Tam Nhật Thánh bắt đầu với những cử hành của Bữa Tiệc Ly.
Việc Giêsu xuất hiện trong cõi trần này đã làm thế giới đảo lộn tùm lum hết; và trong bữa ăn cuối cùng này, Giêsu dạy cho các học trò thân cận nhất của mình cách đảo lộn thế giới họ đang sống. Không biết là họ có làm được không; nhưng Giêsu đã đảo lộn cuộc đời họ.

Là người Dothái, Giêsu và các học trò mình luôn biết rõ việc “sạch dơ” trong bộ luật. Nhà nhà đều có những cái lu nước trước hiên dùng trong việc thanh tẩy. Với dòng máu du mục và nền văn hóa sa mạc, người dân Dothái sống lòng hiếu khách như một dấu chỉ của lòng kính trọng Thượng Đế; và một trong những cử chỉ đó là rửa chân cho những người lữ hành ghé ngang. Đương nhiên, việc này là việc của người đầy tớ.

Thế mà trong bữa Vượt Qua theo luật khi hoàng hôn xuống, khi mọi người háo hức kể về việc vượt qua của cha ông, Giêsu lặng lẽ cởi áo, lấy nước rửa chân cho học trò mình. Ông Phêrô phản ứng thật dễ hiểu: không bao giờ thầy rửa chân cho con… Giêsu âu yếm trả lời là anh phản ứng đúng đấy; nhưng anh không hiểu thầy làm gì. Thầy là thầy mà rửa chân cho anh, thì anh em hãy làm như vậy. Thầy sắp chết rồi và không còn ở với anh em nữa, thầy muốn anh em làm đảo lộn thế giới này bằng cách này. Anh em sẽ là “thầy tu” theo cách của Thầy. Cái luật tu của thầy chỉ có vài chữ thôi: “Hãy yêu nhau NHƯ Thầy yêu anh em.”

Là thầy tu, anh em trở thành người hướng dẫn người khác trong cầu nguyện với Thượng Đế, xung phong đi đầu trong cuộc chiến tinh thần chống lại cái ác, sẵn lòng trở thành lỗi tai cho ai muốn kể lể, luôn là mái nhà để đau khổ khó khăn của người khác lắng xuống. Anh em đừng tưởng hướng dẫn người khác là lãnh đạo, đừng tưởng đi tiên phong là có người tung hô hay bảo vệ, không bao giờ được phép đưa ra quyết định gì ngoài việc ôm ấp yêu thương người đến đổ rác của họ vào cuộc đời anh em, và nhất là sẵn lòng chết để cho ai đó bớt đau hơn một chút.

Là thầy tu theo phong cách Giêsu thì phải tu NHƯ Giêsu. Tu NHƯ Giêsu là yêu NHƯ Giêsu. Yêu NHƯ Giêsu là cởi áo ra, quỳ xuống trước từng người mà rửa chân cho họ như một tên đầy tớ nhé. Bất cứ ai đều là chủ của anh em và anh em phải phục vụ họ như một người tôi tớ. Anh em có hiểu không?

Một năm một lần, anh em rửa chân cho một số người trong nghi lễ thì cũng dễ dàng thôi; nhưng anh em phải sống 364 ngày còn lại trong hành động này. Khi mỗi ngày mới gõ cửa phòng của anh em, anh em thấy mình là gì? Là đầy tớ của mọi người và làm công việc của người tôi tớ, hay anh em sống như ông “thầy phán.” Phán nhiều quá đến nỗi người nấu bếp sợ có lúc són cả ra quần. Hay anh em sống như ông “thầy chỉ.” Chỉ nhiều quá đến độ cứ tưởng tay mình cầm cây đũa thần vung lên vung xuống làm thành cái bệ trên đầu trên cổ người khác để nhảy lên ngồi chễm chệ mà quên đi họ là những người đang vất vả khó nhọc làm việc của mình. Hay anh em sống phung phí xa hoa như ông “thầy biết.” Biết hết mọi sự đến độ đưa ra các phán đoán nặng nề sai trái như tên thẩm phán ngu xi không cần lắng nghe mà hiểu cho hết tình hết lý của những bất công oai trái ngay cả nơi những người âm thầm lo lắng cầu nguyện cho mình. Hay anh em sống như ông “thầy hưởng.” Hưởng quá nhiều bổng lộc trần thế đến độ quên ngày để sơn hào hải vị trong tủ lạnh và khi chúng mốc meo lên thì đem đổ ngay trước mặt những người chỉ mong “lượm thùng rác” của cha để mà sống vui sống khoẻ. Anh em có hiểu không?

Là người Dothái, Giêsu và đồ đệ mình biết rất rõ việc chuẩn bị thức ăn cho bữa Tiệc Vượt Qua quan trọng này. Cả nhà quây quần bên bàn ăn với thức ăn được quy định hẳn hoi: là một con chiên đực đúng một tuổi và không bị thương tật hay tì vết nào, ăn thịt chiên nướng với bánh không men và rau đắng. Cách ăn cách mặc của bữa này cũng được ghi xuống cẩn thận. Cửa thì đóng, máu chiên thì bôi lên cửa, mang dép có quai, thắt lưng, tay cầm gậy và ăn vội vàng như chạy giặc. Trong bối cảnh linh thiêng và trang trọng ấy, Giêsu cầm lấy Bánh, chúc tụng tạ ơn và bẻ ra rồi nói: Hãy cầm lấy mà ăn, thịt Thầy đây. Giêsu cầm lấy chén Rượu, lớn tiếng chúc tụng và trao cho đồ đệ và nói: Hãy cầm mà uống, máu Thầy đây. Máu Giao Ước ở cái đà ngang cửa ra vào sẽ được thay bằng máu Thầy. Thầy lấy Máu Thịt Thầy làm lương thực nuôi anh em để anh em sống trong Thầy, thì anh em hãy đảo lộn thế giới này bằng cách trở thành lương thực nuôi mọi người; và đây là cách duy nhất anh em NHỚ đến Thầy.

Thầy không bắt khó anh em, nhưng anh em là thầy tu theo cách của Thầy thì phải NHỚ cách Thầy tu để mà bắt chước. Là thầy tu, anh em ráng hết sức mà sống như chiên không tì vết để người khác mang anh em lên bàn thờ mà tế lễ. Cuộc đời của anh em phải nhỏ lại để người khác có thể cầm được, để người khác bẻ vụn ra. Anh em phải ráng rèn luyện thân phận của mình có nét đẹp như lời chúc tụng tạ ơn dù anh em là xác thân mê muội với biết bao lỗi lầm. Anh em có hiểu không?

Nói với mọi người Thánh Lễ là hy tế thập giá của Giêsu Kitô chắc cũng không khó lắm và chẳng mất nhiều năng lượng; nhưng mỗi ngày anh em tham dự vào lễ tế cuộc đời Thầy trong cương vị chủ tế của cộng đoàn vì lợi ích gì? Anh em dâng lễ để cầu thay nguyện giúp cho bàn dân thiên hạ; hay anh em hí hửng vì cái bổng lễ to. Bàn dân thiên hạ xin lễ nhiều quá và anh em có chú ý đến những ý nguyện của họ; hay anh em chỉ loay hoay tìm cái lễ béo mà mất hết giờ chuẩn bị dâng lễ cho đàng hoàng chu đáo. Anh em có thinh lặng dọn mình nghiêm túc bằng suy niệm những gì phải chia sẻ; hay anh em lấy chuyện con Mít với thằng Xoài nơi tờ báo lá cải để buôn chuyện cho hết giờ. Khi đọc kinh sớm tối, anh em có để lòng mình sống theo hơi thở của dân Thiên Chúa trong các ca vịnh; hay anh em hít lấy hít để cái sầu riêng của mình và coi như trời sắp sập nếu nó không biến thành cái sầu chung để khoe khoang làm cớ cho mọi người ca tụng và khen ngợi mình là người can đảm giỏi giang. Anh em có hiểu không?

Là thầy tu theo cách của Thầy, anh em có sẵn lòng để cuộc đời mình bị người khác ăn đến hao mòn chưa? Anh em có sẵn lòng để tấm lòng mình bị người khác uống đến chẳng còn gì chưa? Anh em phải tu để đời anh em, tấm lòng anh em, để từng hơi thở, từng thớ thịt, từng giọt máu của anh em trở nên thơm ngọt như một bữa cơm mẹ nấu. Anh em có hiểu không?

Thứ Năm Thánh hôm nay vẫn được gọi là sinh nhật của chức linh mục. Ban ngày, thằng tôi này mừng sinh nhật chức linh mục của nó trong một nhà dưỡng lão nhỏ bé; và khi hoàng hôn về, nó cử hành nơi nguyện đường với anh em nó. Nó bật khóc vì thấy rõ mình chẳng tu theo kiểu của Thầy nó. Nó cũng yêu, nhưng tim nó cứ vớ vẩn vương vấn cái gì đâu đâu đó mà chẳng chịu yêu NHƯ Thầy. Nó cũng đọc kinh sớm tối mỗi ngày với anh em và dâng lễ khi đến lượt, nhưng đời nó như cục xương khó gặm lại làm người khác mắc nghẹn.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày học bài học để trở thành ông thầy tu.
Thằng tôi cầu nguyện và tha thiết xin ông Thầy Giêsu đừng rời bỏ nó vì những ngu dốt không hiểu bài học tu của nó. Nó nghe rõ lắm tiếng Giêsu hỏi: anh có hiểu không? Anh có kinh nghiệm được Thầy yêu anh không? Anh có dám ăn Thịt và uống Máu Thầy không? Ngồi một mình với Thầy Giêsu trong thinh lặng và ánh đèn mờ của nhà chầu, thằng tôi không biết nói gì, nó thinh lặng ngắm nhìn nơi Giêsu chọn ở lại để mong gặp được ánh mắt yêu thương của Giêsu, cho dù có chút gì đó trách móc nó vì tu chẳng ra hồn. Nó mong nghe rõ tiếng tim thổn thức của Thầy Giêsu để ráng mà uốn nắn tim nó trở nên hiền lành khiêm nhượng như Thầy.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày thằng tôi mong điều cuối cùng nó có chỉ là Giêsu và tình yêu của Thầy; ngày nó mong không gì ràng buộc nó để nó tự do yêu với kinh nghiệm được yêu bởi Giêsu; ngày nó mong được bé nhỏ để bị bẻ vỡ vụn ra với kinh nghiệm lập lại lời của Giêsu: cầm lấy mà ăn, mà uống để nhớ đến Thầy.

(Tuần Thánh 2019)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?