Âutinh và Sự Giằng Co

Âutinh và Sự Giằng Co

Lễ thánh Âutinh – ngày 28 tháng Tám hằng năm luôn là một ngày đặc biệt với thằng tôi. Trong ngày này cách đây nhiều năm, thằng tôi công khai thông báo cho mọi người, xin họ chứng giám và giúp nó sống một lối sống khác lạ qua lời khấn Vâng Lời, Khó Nghèo và Khiết Tịnh. Bỗng dưng năm nay, cái cảm giác lâng lâng bồi hồi và có chút mãn nguyện ngày nào tràn về đầy tâm hồn nó; không phải để bế nó bồng bềnh với những gì được gọi là hạnh phúc hay bằng lòng, nhưng dường như để báo trước những ngày tháng khó khăn sắp tới đang chờ đợi nó mà bản thân thằng tôi chỉ biết bằng một chút linh cảm.

Trong cuốn Tự Thuật (Confessions) tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Âutinh chia sẻ con đường lấp đầy nỗi khắc khoải của ngài cho chúng ta chính là con đường bước vào bên trong chính nội tâm mình. Âutinh viết: “Người đã rời khỏi ánh mắt của chúng ta để chúng ta trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

Âutinh chia sẻ kinh nghiệm này sau khi tốt nghiệp và trở thành thầy dạy về hùng biện lúc còn rất trẻ. Công việc hứa hẹn một vị trí xã hội đáng kính trọng và có một tương lai mở rộng như gia đình mong đợi. Cùng lúc này, Âutinh đang ở trong lạc giáo và chung sống với người phụ nữ ngoài giá thú trong một thời gian dài. Âutinh cũng khóc trước cái chết của một người bạn thân, người Âutinh gọi là “nửa hồn mình” mà nơi người bạn này, kinh nghiệm của Âutinh về tình bạn là “sự ngọt ngào hơn tất cả những ngọt ngào của cuộc sống mà tôi trải qua.”

Dù viết xuống thật ngắn, Âutinh đã cho ta thấy độ dầy và khoảng rộng của một tâm hồn cần có để chấp nhận và ôm ấp những nghịch lý của mối liên hệ giữa thụ tạo và Đấng tạo thành nên nó. Với Âutinh, hoán cải trở về là từng bước tập cho mình chấp nhận được và ôm ấp được những nghịch lý của mọi khía cạnh của cuộc sống làm người, từ cấp độ thấp nhất cho đến cấp độ cao nhất. Những nghịch lý này tạo nên những giằng co nhất định trong nội tâm của con người. Âutinh nhìn  những cách giải quyết những giằng co này như những dấu chỉ để nhận ra một tâm hồn đủ rộng đủ sâu, và phản ánh niềm vui nội tâm của việc hoán cải đích thực.

Trong giai đoạn này, Âutinh biết rất rõ con đường phải đi nơi lòng mình, nơi Âutinh tìm được sự ngọt ngào của tình bạn, khoái lạc của sự kết hợp thể xác, thành công như dự định, và cũng như trải qua những đớn đau mất mát. Khi trải qua những kinh nghiệm này, Âutinh mời ta nhắm mắt lại để ta có thể nhìn nó rõ hơn từ nội tâm mình. Khi làm giám mục và viết lại những biến cố này, Âutinh mời ta đọc nơi câu văn ngắn ngủi đó nhắm đến con người có tên Giêsu-nền tảng sâu xa của Đức Tin, nhắm đến cái Tình – cốt lõi của một con người, và xây dựng lòng can đảm – dấu chỉ của sự trở lại đích thực.

  1. Giêsu – nền tảng sâu xa của Đức Tin.

Suốt chương 12 của cuốn IV, cái tên Giêsu không được nhắc đến, nhưng Âutinh đã giới thiệu Giêsu như là trung tâm của Đức Tin và ơn cứu độ mà Giêsu mang lại. Nơi số 19 của chương này, Âutinh giới thiệu sự Nhập Thể của Giêsu và Ngài trở thành sự sống mà chính Âutinh đang tìm kiếm. Một sự sống lấp đầy sự khắc khoải khôn nguôi mà mọi thứ trên đời không gì có thể lấp đầy được như nghề nghiệp và bạn bè, tiền bạc và khoái cảm thể xác, ngay cả tri thức và quyền lực. Việc bước vào không gian và thời gian của một Thượng Đế ở ngoài không gian và thời gian là một điều không thể tưởng tượng được, không thể nghĩ được. Một cách gián tiếp, Âutinh đẩy việc nhập thể của Thượng Đế trở thành hành vi tuyệt vời nhất mà con người cần đến đó là sự cứu độ và giải thoát. Cái đầu nhỏ bé của con người không thể nghĩ được chuyện đang xẩy ra đồng thời đang kinh nghiệm mình là một phần của điều đang đó. Hãy nhắm mắt lại, bước vào lòng mình để thấy một Thượng Đế thu nhỏ lại trong nơi kín đáo thẳm sâu của lương tâm mà nơi đó chỉ có chỗ cho chính bản thân mình và Thượng Đế. Và để có thể cho con người trở thành một phần của Thượng Đế, chính Ngài đã ẩn mình đi – “rời khỏi ánh mắt của chúng ta.”

  1. Cái Tình – cốt lõi của một con người.

Với nghề nghiệp mới và óc tìm tòi của mình, Âutinh đọc nhiều và phê bình chính tác phẩm đầu tay của mình và những kiến thức của mình về vũ trụ. Âutinh không ngại dùng từ “sự điên rồ khốn khổ” để nói về mình khi cố gắng hết sức để diễn tả vẻ đẹp thần linh và những gì thuộc về vĩnh cửu. Một người ở trong không gian và thời gian thì không thể diễn tả những gì bên ngoài nó. Dù có nỗ lực thế nào đi nữa, việc diễn tả ấy trở thành yếu tố gây chia rẽ và xung đột. Âutinh nhận ra rằng, để giảm những sai lầm xấu xa, Âutinh phải “gần” với Thượng Đế để Ngài chiếu ánh sáng không thể từ chối và che đậy được vào nơi tăm tối nhất của con người là nội tâm của nó. Với ánh sáng đó, con người gặp được Sự Thật để mà tham dự, tháp nhập vào nó một cách từ từ qua những quyết định. Như thế, những gì là thần linh lại được diễn tả bằng cuộc gặp gỡ và bằng cái tình hai bên trao nhau trong cuộc gặp gỡ đó. Lúc ấy, con người thực sự sống sự sống thần linh ngay lúc bắt đầu bước vào cuộc tình và điều này làm cho con người hoàn toàn trở nên khác với tất cả mọi thụ tạo vì nó có thể “trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

  1. Can đảm – dấu chỉ của sự trở lại đích thực.

Khi chia sẻ kinh nghiệm này của chính mình, Âutinh chưa rửa tội và đang lang thang tìm kiếm Thượng Đế bên ngoài chính mình. Nhưng có lẽ khi nhìn lại chính mình lúc 20  tuổi, Âutinh thấy Thượng Đế đã bắt đầu thủ thỉ qua tiếng lòng của chính mình. Dù can đảm này chưa lớn đủ để Phép Rửa có thể xảy ra ở lứa tuổi 20 ấy, Âutinh vẫn tìm kiếm và vẫn lắng nghe tiếng lòng để bước vào cuộc tình. Tiếng thì thầm của Thượng Đế cứ lớn dần lên qua những kinh nghiệm nhân sinh và Âutinh cần hơn mười năm nữa để có quyết định lãnh nhận Phép Rửa.

Kinh nghiệm khi “người rời khỏi ánh mắt” của mình, cộng với sự can đảm và kiên trì “trở về lòng mình”,  Âutinh đã tìm và đã gặp người. Cuộc tình cứ lớn dần lên và khi nhớ về nó, Âutinh đã viết lên những dòng chữ không gì có thể đẹp hơn và không ai có thể hiểu được ngoại trừ chính người đó cũng bước qua con đường y như thế:

“Ôi con yêu Chúa quá muộn màng,
Ôi Vẻ Đẹp rất cổ kính và tân thời, con yêu Chúa quá muộn màng!
Ngài ở trong con, nhưng con tìm kiếm ngài ở ngoài con…
Ngài đã gọi, đã gào thét, …Ngài toả sáng… Ngài đụng chạm…
để lòng con được bùng lên sự khao khát bình an của ngài.”

Với những suy nghĩ này, thằng tôi muốn chia sẻ những giằng co trong nội tâm mình khi nhớ về một ngày đặc biệt của riêng nó. Thằng tôi cần lắm những giây phút “người rời khỏi” ánh mắt của nó, không phải để nó cảm thấy cô đơn hay bơ vơ trong đời sống, không phải để nó có cớ phàn nàn sao Chúa lại vắng mặt và vô hình lâu đến vậy trước những biến cố của cuộc sống; mà là để nó có cơ hội “trở về lòng” của nó để mà tìm và để gặp một con người có tên Giêsu, một con người luôn ao ước bước vào cuộc tình như nó bao lần hằng mơ ước. Thằng tôi cần vun trồng sự can đảm trong cõi lòng mình và kiên trì ở lại đó hơn là dong duổi tìm kiếm bên ngoài. Thằng tôi không biết nó cần bao nhiêu năm tháng nữa để có thể thốt lên như Âutinh: Ôi Thiên Chúa, Vẻ Đẹp cổ kính và tân thời; nhưng nó biết chắc là nó sẽ thốt lên rất nhiều lần như một lời thú tội “con yêu Chúa quá muộn màng!”

Sống lại với những lời hứa của mình cho một lối sống khác lạ, thằng tôi mừng lễ ông tổ của nó với những giằng co ngổn ngang trong tâm hồn. Những giằng co này không phải để chọn cái này bỏ cái kia, nhưng là chấp nhận, là ôm ấp những nghịch lý của thân phận làm người với những tội lỗi và yếu đuối; đồng thời chấp nhận món quà lớn lao mà nó chẳng đáng nhận là sự cứu rỗi và an bình vĩnh cửu. Không biết đến bao giờ thằng tôi này mới chấp nhận mọi sự cách trọn vẹn trong vui vẻ, mới ôm ấp mọi sư thật chặt với lòng can đảm. Xin mọi người cầu nguyện cho thằng tôi tập sống yêu mỗi ngày để tâm hồn nó có độ dầy và khoảng rộng của cuộc tình vĩnh cửu.

“Người đã rời khỏi ánh mắt của chúng ta để chúng ta trở lại với lòng mình, và tìm thấy người ở đó.”

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Kinh Nghiệm Thánh Thể thời đại dịch Covid-19

Sẽ không thể quên với những người sống vào năm 2020 và lịch sử sẽ kể lại về một biến cố thật vĩ đại trên phạm vi toàn cầu bởi một con virus rất nhỏ và gần như vô hình. Bản thân con virus không tồn tại lâu được nhưng chỉ bám vào cơ thể sống để phát triển. Nó không đi đâu được nhưng rất tranh thủ những bước chân của con người để hiện diện khắp chốn. Sau ba tháng, nó gần như nó có mặt ở bất cứ nơi đâu có mặt con người, gây nhiều chết chóc và gieo rắc nỗi sợ hãi khắp nới. Nó làm nên đại dịch với tên Covid-19 (Corona Virus Disease of 2019). Mọi biện pháp từ ngăn ngừa cho đến chữa trị được bàn thảo và được đề nghị áp dụng. Ngoài những nghiên cứu khoa học để tìm cách ngăn ngừa (vaccine) và chữa trị (medication treatment), con người phải tự cách ly bản thân mình như cách thức ngăn ngừa và chữa trị hiệu quả. Thế là lệnh cách ly được hầu hết các chính quyền sử dụng, áp dụng cho tất cả mọi người, mọi tổ chức, mọi công việc, kể cả việc tôn giáo. Đối với Kitô giáo, lệnh cách ly rơi đúng vào những ngày tháng quan trọng nhất của cử hành tôn giáo: mùa chay, tuần thánh và đại lễ Phục Sinh.

Lệnh cách ly của chính phủ làm cho cả xã hội nói chung có phần nào đó sống như một đan viện. Nơi đan viện, chúng tôi không ra ngoài nhưng làm việc theo bổn phận được  bề trên trao cho mình. Chúng tôi giữ thinh lặng nhiều và chỉ nói những gì cần thiết. Chúng tôi giữ khoảng cách nhiều vì phòng riêng cũng là văn phòng làm việc. Chúng tôi chia sẻ bữa trưa với nhau trong tình anh em và đôi khi vừa ăn vừa nghe đọc sách thiêng liêng. Nhà nguyện là trung tâm của đan viện và của đời sống chúng tôi. Nơi chúng tôi sống đời tu sĩ nhiều nhất, làm tu sĩ nhiều nhất và chia sẻ cuộc sống  tu sĩ với nhau nhiều nhất. Ít nhất là bốn lần trong ngày, chúng tôi cùng nhau đọc kinh sáng, chiều, tối và cử hành thánh lễ. Khác với chúng tôi, các tín hữu thường đến nhà thờ (nhà nguyện) một tuần một lần vào ngày Chúa nhật để cử hành Thánh Thể, hoặc có những tín hữu vẫn siêng năng đến nhà thờ cử hành Thánh Thể mỗi ngày.

Cử hành Thánh Thể là việc làm tôn giáo cao nhất của một người tin Chúa. Tuy nhiên, lệnh cách ly đã không cho phép các tín hữu tụ tập để cử hành Thánh Thể như thường lệ. Đây là một mất mát lớn cho các tín hữu, nhất là trong những ngày trọng đại nhất trong năm của đời sống đạo. Lúc này, cơn đại dịch Covid-19 đã làm mất đi những ý nghĩa rất quan trọng của việc cử hành tuần thánh và lễ Phục Sinh: Sám hối công cộng,  Suy tôn Thánh Giá, Rửa tội cho các dự tòng, và canh thức Phục Sinh. Trước sự việc bất khả kháng này,  các linh mục quản xứ cố gắng nghĩ ra nhiều phương thức để cùng với tín hữu của mình tiếp tục cử hành Tam Nhật Thánh và Thánh Thể. Với kỹ thuật hiện đại, thánh lễ và các cử hành được truyền hình trực tiếp và ai ai cũng có thể tham dự nhờ một điện thoại thông minh.

Nơi đan viện, cuộc sống tâm linh không có gì thay đổi. Vẫn bốn lần vào nhà nguyện và Thánh Thể vẫn được cử hành như thời khoá biểu bấy lâu nay. Tuy nhiên, với những thông tin báo chí, cùng với điện thư và điện thoại nhận được, thằng tôi nhận ra những khao khát của các tín hữu muốn cử hành Thánh Thể như bình thường; nghĩa là được quy tụ lại, cùng nhau hát, cùng nhau thú tội và xin ơn tha thứ, cùng nhau cầu nguyện và chúc bình an, và nhất là cùng nhau hiệp thông trong một tấm bánh được bẻ ra và một chén được chúc tụng. Thằng tôi không phủ nhận những cố gắng và rất trân trọng những ý muốn ngay lành của tất cả mọi người dâng lễ trực tuyến để những kinh nghiệm này không mất đi. Bản thân nó cũng nhận nhiều điện thư và điện thoại hỏi xem rằng nó có dâng lễ trực tuyến không. Dù vậy, thằng tôi có những suy nghĩ có lẽ khác với mọi người. Xin được phép chia sẻ những suy nghĩ này trong tâm tình Giáo Hội và cá nhân.

  1. Có rất nhiều người nghe thằng tôi chia sẻ, lập đi lập lại và nhấn mạnh trong những buổi tĩnh tâm hay trong những buổi hội thảo rằng: theo Kitô Giáo là theo một con người – sống đức tin Kitô Giáo là sống với một con người – con người có tên Giêsu. Mọi giới luật của Kitô Giáo nhằm giúp các tín hữu gặp gỡ con người này. Mọi sinh hoạt của Kitô Giáo nhằm giúp các tín hữu biết con người này. Mọi hy sinh và cử hành của Kitô Giáo có mục đích duy nhất là sống với con người này. Găp gỡ-Biết về-Sống với con người Giêsu này là một kinh nghiệm cá nhân. Vẫn biết rằng các tín hữu có thể Gặp gỡ-Biết về-Sống với con người Giêsu qua Kinh Thánh, qua thừa tác viên và mọi người xunh quanh, qua lời cầu nguyện. Nhưng để có thể làm điều Giêsu căn dặn phải làm mà nhớ đến Ngài thì chỉ có cử hành Thánh Thể thực sự vì nơi đó, tín hữu “Cầm lấy thân mình đích thực của Giêsu mà ăn. Cầm lấy chén máu đích thực của Giêsu mà uống”. Việc rước lễ thiêng liêng khi nhìn qua màn hình chiếc điện thoại sẽ rất khác với việc tiến lên bàn thờ, cầm lấy mà ăn, mà uống.
  2. Có rất nhiều người nghe thằng tôi hay nói đến kinh nghiệm “thời gian không hiện hữu.” Thằng tôi không phủ nhận những giới hạn của thời gian mà không gian nó đang sống. Lịch sử cuộc sống của thằng tôi trong đại dịch Covid-19 này đang nằm trong những ngày tháng Tư của năm 2020, đang ở trong một không gian nhỏ bé của vùng Đông Bắc Mỹ. Thế nhưng, niềm tin đã biến lịch sử của biến cố này trong kinh nghiệm nhỏ bé của nó thành một phần của lịch sử cứu độ nơi cử hành Thánh Thể. Tất cả mọi thứ và nhất là mọi người trong cử hành đều dẫn nó bước đi trên những con đường mầu nhiệm để bước vào những “Thực Tại Thần Linh” (Divine Realities). Mầu nhiệm thiêng liêng của thời gian và không gian, khi một mình trong căn phòng nhỏ, trước cái điện thoại sẽ rất khác với việc kinh nghiệm tại nhà thờ – nơi mà từng người tham dự được nghe tiếng hát trầm bổng, được nắm tay nhau giơ lên cao trong lời cầu nguyện cụ thể, được ngửi thấy mùi hương trầm nghi ngút bay, được thấy những tiếng cười giòn tan hay giọt lệ mằn mặn của anh chị em đứng sát ngay bên. Đành rằng bất cứ ai hoà mình vào việc tham dự lễ qua chiếc điện thoại, họ vẫn bước vào “thực tại thần linh” để có kinh nghiệm sống ngoài thời gian và không gian. Nhưng khôn ngoan của những bậc hiền nhân dạy rằng, hành trình bước vào những mầu nhiệm của những thực tại thần linh luôn cần bạn bè đồng môn hơn là cái máy điện thoại thông minh.
  3. Có lẽ nhiều người nói thằng thôi này rất khó trong cử hành Thánh Thể. Đơn giản là nó cố làm hết sức để có những buổi cử hành Thánh Thể thật nghiêm chỉnh, thật đẹp và thật tự nhiên cả về nội dung và hình thức bên ngoài. Chính vì thế, thằng tôi luôn cử hành Thánh Thể như một “diễn viên” của “Vở Kịch Thần Linh”. Là diễn viên, nó cần phải làm tròn vai, tròn trách nhiệm và tốt hơn là làm với cả tâm tình và nhập vai. Nghĩa là nó phải “làm đủ” và “làm tròn” những gì thuộc về mình và chỉ làm những gì thuộc về mình mà thôi. Điều này cần chuẩn bị kỹ lưỡng và cần thực tập nhiều lần.  Dẫu biết rằng những người tham dự cử hành Thánh Thể trực tuyến đều có sự chuẩn bị để có thể làm tròn vai trò và trách nhiệm của mình. Nhưng dù có chủ ý và cố gắng, việc chuẩn bị tham dự Thánh Thể trực tuyến sẽ rất khác vì việc chuẩn bị đó đôi khi lại nhằm vào chiếc máy hơn là chính bản thân mình. Trong khi cử hành, thay vì là diễn viễn trong vở kịch thần linh, người tham dự qua điện thoại vô tình trở thành anh thợ máy.

Trước khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, nhà thờ vẫn còn nhiều chỗ trống. Nhiều người vẫn bỏ cử hành Thánh Thể. Việc tôn giáo còn vắng bóng sự chân thành. Khi đại dịch đến làm điều kiện sống thay đổi, và khi phải đối diện với những vấn đề giữa sự sống và sự chết, người tín hữu dậy lên lòng khao khát được cử hành Thánh Thể để gần Chúa hơn, nhưng họ lại phải cử hành với một cung cách khác xa với truyền thống là một mình một cõi trong nền văn minh cá nhân chủ nghĩa và chọn lựa những lễ trực tuyến có khi ở tận nơi mà mình không hề biết đó là đâu. Thử hỏi khi đại dịch qua đi, người tín hữu học được gì và có trở nên thánh thiện và gần Chúa hơn không?

Tất cả đều tuỳ thuộc vào từng người chúng ta. Xã hội sẽ đến ngày hết cách ly và người người cũng đang bàn tán về một cung cách sống mới để sống chung với virus. Người Kitô hữu cũng vậy, không biết có nhiều người hơn nhìn ra cơ hội để trở thành chứng nhân bằng cách chuẩn bị chính bản thân mình nhiều hơn để bước vào một lối sống với lòng khao khát hơn và một tình yêu lớn mạnh hơn dành cho việc tìm kiếm một kinh nghiệm cá nhân với Đức Giêsu. Để với kinh nghiệm này, từng thành viên của Giáo Hội không những làm cho đời sống mình được phong phú và tinh tuyền hơn, nhưng còn trở nên hấp dẫn người khác với vẻ đẹp thần linh mà họ kín múc nơi kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ Thần Linh.

Với những chia sẻ này, thằng tôi muốn dâng lời cầu nguyện cho tất cả mọi người được bình an trong lúc khó khăn này, cho đại dịch chóng qua và cho kinh nghiệm về Thánh Thể luôn được gìn giữ tinh tuyền như lần đầu Đức Giêsu cử hành một lần cho mãi mãi.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thứ Sáu Thánh – Cái Đẹp Tuyệt Đối và Một Lời Mời

Mỗi năm, thằng tôi nhận được một hai tin nhắn ngắn ngủi của một nữ tu bạn diễn tả sự hiệp thông trong cầu nguyện mỗi lần đọc được điều gì hay hay ở đâu đó (được viết bởi thằng tôi). Thằng tôi ngày nào cũng viết đôi ba dòng. Có khi nó viết tiếp những gì dang dở của hôm trước. Có khi nó viết vội vài dòng để luồng tư tưởng khỏi mất đi. Có lẽ sở thích viết là cách diễn tả của thằng tôi về những thực tại của cuộc sống đức tin, để vượt qua những khó khăn trong đời tu, hay của những đam mê kiếp người. Đôi khi những con chữ nhỏ nhoi, nguệch ngoạc như cây cọ quẹt lên vài tư tưởng cỏn con trong bức tranh cuộc đời đầy sắc mầu của cuộc sống dù đó là sắc xanh đỏ tím vàng, hay đậm nhạt sáng tối của ngày sống. Vui nó cũng viết. Buồn nó cũng viết. Bận rộn nó cũng viết. Rảnh rỗi nó cũng viết. Thằng tôi viết để nhớ lại những thất bại trong cố gắng của nó. Nó viết để trả lời cho nó những vấn nạn của tâm hồn nó. Nó viết để kiểm tra trách nhiệm của nó. Đôi khi thằng tôi viết để chia sẻ rằng nó được yêu thương và tha thứ dù nó xấu xí và bất xứng. Tương tự như thế, mỗi năm một lần vào khoảng đầu Xuân, thằng tôi nhận được cuộc gọi của một linh mục bạn hỏi thăm chuyện trên trời dưới đất. Chẳng có chuyện gì quan trọng, nhưng bạn bè chỉ nghe tiếng nói của nhau là biết nhau có ổn không. Có năm thì khóc, có năm thì cười. Hai đầu dây xa xôi mà như diện đối diện để kể ra những khó khăn vấp ngã và để giúp nhau tiếp tục sống cho đẹp. Hai người bạn này của thằng tôi chưa hề gặp nhau, nhưng trong năm 2020 họ bỗng có chung một đề nghị nho nhỏ về điều mà thằng tôi rất thích nghĩ đến, nói chuyện về, và im lặng ngắm nhìn: đó là cái Đẹp. Hai người bạn này biết rõ thằng tôi rất thích dùng “Cái Đẹp Tuyệt Đối” như niềm hy vọng để nó bám vào mà sống và vươn lên từng ngày. Thằng tôi bỗng dưng muốn viết về cái Đẹp này và thấy không có gì đẹp cho bằng ngày hôm nay, thứ Sáu Thánh (Good Friday)

Thứ Sáu Thánh là ngày Giêsu bị giết, bị treo trên thập tự giá – một ngày tuyệt đẹp. Ngày đẹp nhất trong tất cả mọi ngày. Không gì có thể diễn tả được cái đẹp của Giêsu trong ngày hôm nay.

Cái đẹp nhất chính là cái đơn giản nhất.

Không gì đơn giản hơn hai thanh gỗ xù xì, không cần được gọt bào cho dễ coi, được dựng lên như cây thập tự trên ngọn đồi cằn cỗi, lác đác những bụi cây với những cục đá dăm ngổn ngang. Không gì đơn giản hơn trên thân gỗ xù xì ấy là một thân thể tan nát với đòn roi mà không cần che đậy, một con người với thân xác được phủ bằng những vết thương đầy máu me mà không cần phải giấu diếm. Một thanh niên im lìm và bất động ráng vươn lên để thở với cái sức tàn tạ còn lại. Một khuôn mặt bầm sưng vì té úp mặt xuống đất với những dòng máu rỉ xuống từ những cái vương miện bằng gai nhọn trên đầu và đôi môi cố gắng mấp máy những lời cuối cùng nhưng làm cả vũ trụ ngạc nhiên trong tiếng thì thào tha thứ để đáp trả lại những thách thức của quyền lực và bạo hành. Một con người trung thành trọn vẹn và vâng lời đến giây phút cuối cùng cả ngay trong những lúc to chuyện với những thắc mắc ngổn ngang trong sự tin  thác tưởng chừng như vô lý.

Cái đẹp nhất chính là những gì nhỏ bé nhất.

Thứ Sáu Thánh 2020 có thêm một sự kiện đặc biệt có tên SARS-CoV-2 làm nên đại dịch COVID-19. Con virus nhỏ bé tí xíu làm cả thế giới hỗn độn cả lên và tối mù như điện đêm ba mươi bị đứt cầu chì. Mọi phương tiện giao thông vận chuyển được lệnh dừng lại, mọi hàng quán bị đóng cửa, mọi người bị cấm cung, mọi cử chỉ của tình huynh đệ  như bắp tay hay cái ôm xã giao bị cho là nguy hiểm. Thế giới ồn ào bỗng trở nên im lặng. Xã hội năng động và gần gũi của con người bỗng trở nên dè chừng và xa cách. Mọi người và mọi sự trên hành tinh xanh bỗng chậm lại và không thể dự đoán được gì vì nỗi sợ hãi về sự thăm viếng của thần chết có thể xảy đến với bất cứ ai và ở bất cứ nơi nào. Tại nước Mỹ văn minh và giàu có nhất thế giới này được dự báo là trung tuần tháng Tư này, tuần có ngày thứ Sáu Thánh là tuần thê thảm, chết chóc và tồi tệ nhất trong lịch sử của nó.

Không ai chối cãi sự thật lịch sử của hai biến cố đau thương này. Không ai phủ nhận những ảnh hưởng tốt-xấu của hai sự thật này mang lại cho bao thế hệ. Sẽ luôn có những phân tích đúng sai, những nhận định chủ quan theo cảm tính, những quyết định làm nên những ngã rẽ cuộc đời của nhiều con người khi hai biến cố này viếng thăm họ. Sẽ còn mãi nhiều giấy mực để ghi lại những lý luận, những tranh cãi trái chiều về hai biến cố này. Sẽ còn mãi vô vàn những cuộc đời đổi thay vì hai biến cố này. Sẽ còn mãi những dở dang khi xem hai biến cố này là đối tượng để phân tích.

Hai biến cố này có đẹp không?

Chắc chắn sẽ có những ý kiến hoàn toàn ngược nhau và lý luận rằng cái đẹp mang tính chủ quan. Có thể điều gì đó đẹp với bạn, nhưng không đẹp với tôi: “cái đẹp nằm ở con mắt của người xem,” thiên hạ vẫn thường nói thế mà. Thằng tôi này muốn mời bạn bỏ hết những lý luận và phân tích ấy ra hẳn bên ngoài con người bạn để ngắm nhìn hai biến cố này. Đơn thuần chỉ ngắm nhìn nó. Thực sự ngắm nhìn nó và thử hỏi xem hai biến cố này có đẹp không? Ngắm nhìn nó và để nó chỉ cho cách hiểu nó. Ngắm nhìn nó và để nó khơi lên cái khao khát đích thực của tâm hồn. Ngắm nhìn nó và để nó nói cho nghe cái lý từ bên trong. Khi ta ngắm nhìn một biến cố nào đó, ta sẽ dễ dàng phân biệt được sự thoả mãn mang tính chủ quan và những giá trị khách quan của sự việc. Như thế, trước một sự việc gì hay biến cố gì, có lẽ ngắm nhìn là điểm khởi đầu đúng để ta có thể hiểu nó theo cách của nó, biết được những khao khát thầm kín, và thốt lên những giá trị bên trong của từng sự việc hay biến cố đó. Những điều này sẽ lớn dần lên khi ta đối xử với sự việc nào đó/biến cố nào đó như là cái đẹp vì chỉ có cái đẹp mới làm ta ngắm nhìn nó mà quên đi những lý luận, những tiêu chuẩn, những phân tích chủ quan. Khi ngắm nhìn một biến cố hay một sự việc, có thể có những bất mãn hay thoả mãn mang tính chủ quan; nhưng khi trung thực với bản thân trong khi ta ngắm nhìn nó một cách cẩn thận và chăm chú, ta thấy mình có nhiều điểm tương đồng cả với người thoả mãn và người bất mãn, về những giá trị mà biến cố đó mang lại. Những giá trị này sẽ lọc lựa những người ngắm nhìn nó để trao cho họ sứ vụ của riêng nó.

Quay lại thực tế của trung tuần tháng Tư, năm 2020 này, đặc biệt là ngày thứ Sáu Thánh và những ngày thống trị của con virus SARS-CoV-2.

Rất có thể thi thể máu me và thương tích của Giêsu không làm bạn thoả mãn và đôi khi ghê tởm; nhưng bạn không thể phủ nhận giá trị tình yêu mà Giêsu mang lại. Giá trị tình yêu đó làm cho Giêsu vẫn sống và vẫn tiếp tục làm vũ trụ ngạc nhiên về tình yêu và sự tha thứ của Thượng Đế dành cho con người. Một tình yêu nhưng không dành cho con người dù con người có từ chối. Một sự tha thứ dành cho con người dù con người có cố tình phạm tội. Ngày thứ Sáu Thánh được cử hành hàng năm để mọi người có thể chiêm ngắm nó. Uớc mơ nhỏ bé của việc cử hành là để cho ai ngắm nhìn hiểu được thế nào là yêu và tha thứ, là để cho ai ngắm nhìn nó biết được khao khát đích thực của tâm hồn mình, là để cho ai ngắm nhìn nó có được sự lý luận của tình yêu và tha thứ từ bên trong. Khi khoảng khắc “à há” của việc chiêm ngắm xuất hiện, thì cũng là lúc người ngắm nhìn nó bắt đầu thay đổi để sống đẹp hơn và cao hơn. Biết đâu đó, ngày thứ Sáu Thánh sẽ chọn ta để làm cho tình  yêu và sự tha thứ của Thượng Đế được biết đến nhiều hơn và lớn dần lên nơi khu phố ta đang sống

Con virus nhỏ bé chắc chắn làm cuộc sống hiện tại không hề thoải mái và rất bất tiện. Chỉ số về sự thoả mãn trong cuộc sống chung với con virus có lẽ sẽ là số âm; nhưng bạn không thể phủ nhận là nó tạo điều kiện cho ta có nhiều giờ hơn để có thể chọn nói truyện với những người thân yêu, chọn đi tản bộ để nghe được tiếng chim hót bên hiên nhà mà bao ngày ta tưởng như không có, chọn sống sạch sẽ hơn và cẩn thận hơn để có được một môi trường trong lành và những tương quan sạch sẽ, chọn  lối sống chậm để nhận ra cái ưu tiên lớn nhất của cuộc sống, và nhất là chọn yêu cuộc sống với những điều vô hình mà tạm gọi là mầu nhiệm, chọn việc phục vụ hơn nỗi sợ hãi mà nó làm cái tôi đóng kín và co cụm lại. Khi có thêm cơ hội để tập chọn lựa những điều này, thì cũng là lúc ta trở nên trọn vẹn hơn với đời và đẹp hơn với người.

Thằng tôi sẽ cử hành thứ Sáu Thánh trong thinh lặng để ngắm nhìn kỹ hơn một tình yêu và sự tha thứ với tin tưởng là tình yêu và sự tha thứ sẽ chọn nó để nhiều người biết hơn về thứ Sáu Thánh.

Thằng tôi cũng đã chọn sống chậm lại để ngắm nhìn vẻ đẹp của trăng sao, ngắm nhìn sắc hoa xuân nho nhỏ, ngắm nhìn những cố gắng để sống chậm, chọn nghe những  bản giao hưởng vĩ đại, sống đẹp trong phục vụ để xua đi những lo lắng sợ hãi của con virus nhỏ bé vô hình với những người xung quanh nó. Thằng tôi hy vọng biến cố COVID-19 chọn nó để nói lời hy vọng và sống vô vị lợi hơn.

Mỗi năm, ngày thứ Sáu Thánh luôn toát lên vẻ đẹp và Cái Đẹp tuyệt đối này luôn lôi thằng tôi sống nội tâm hơn, tin tưởng hơn để tập yêu và tập tha thứ nhiều hơn. Cuộc đời vẫn đẹp và tràn đầy hy vọng dù virus SARS-CoV2 có xuất hiện. Thằng tôi học bài học ngắm nhìn và muốn hỏi bạn là những ngày vừa qua, bạn có thấy trăng rằm của mùa Xuân 2020, có nghe tiếng chim hót bên hè, có nhấc điện thoại để nói lời yêu thương, có căng lồng ngực đón làn khí trong lành, có nhâm nhi ly trà và lắng nghe tiếng du dương của bản giao hưởng, có sống sạch hơn và chậm hơn… Nếu bạn đã có những điều đó, chắc chắn bạn không có giờ để sợ và lo lắng. Bạn đã  được biến cố cuộc đời chọn bạn để lan toả hy vọng và lối sống đẹp. Điều mà ông tổ Âutinh luôn nói: “hãy trở thành những con người của sự phục sinh”.

Thứ Sáu Thánh mãi là một ngày đẹp nhất và mọi biến cố trong đời luôn là một lời mời. Cách ta đáp trả lời mời bằng cách ngắm nhìn để thấy mọi sự từ bên trong sẽ làm cuộc đời ta đẹp lên rất nhiều. Cách đáp trả lời mời gọi bằng cách nhìn thấy những giá trị tích cực sẽ làm cuộc đời ta tràn trề hy vọng và niềm vui. Phải chăng khi bắt đầu bằng ngắm nhìn, ta có lý luận và phân tích đúng hơn, đồng thời có luôn cả cuộc sống cao hơn mỗi ngày, đẹp hơn mỗi ngày với hy vọng tràn trề và niềm vui tròn đầy.

Thứ Sáu Tuần Thánh 2020

Mùa Virus SARS-CoV-2

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khuôn Mặt của Ân Sủng

(Tác giả viết bài này cho bản tin Ultreya của Phong Trào Cursillo Ngành Việtnam  Giáo Phận San Jose, CA theo yêu cầu của Ban Biên Tập , tháng Chín, 2019)

Trung tuần tháng Tám, những tia nắng mùa hè, những ngọn gió biển, và những con sóng rì rào của bờ Thái Bình Dương của Trại Francis đón hơn một trăm người chúng tôi về không phải để trốn cái nóng mùa hè, không phải để tung tăng cùng gió biển, và không phải để trốn xa thị thành chật trội. Chúng tôi đến trại để gặp nhiều người có tên Ân Sủng và học yêu một người có tên Giêsu.

Khung cảnh rất an bình khiến từng người cảm thấy nhẹ nhàng với những hành trang nặng nề của quá khứ mà chỉ từng người mang theo mới biết nó nặng thế nào. Những người chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đã rộng lượng về tài năng, thời gian và tất bật chuẩn bị để những người bước vào Trại Francis không lỡ đi cơ hội gặp gỡ những người đông hành và cũng là bạn đồng môn trong lớp học yêu.

Với cái quá khứ mang nhiều tâm sự, cái tương lai vượt khỏi tầm tay với, mọi người về trại để học bài học yêu là sống cho trọn vẹn thời gian hiện tại, sống tận cùng cái tình để buông bỏ tất cả những gì thuộc về cái tôi mà hơn một lần nó bị che giấu bởi những thước đo và tiêu chuẩn trần thế. Với công việc bận rộn kéo cuộc đời xuống với cơm áo gạo tiền, mọi người về gặp nhau để ngẩng đầu lên, để nhìn nhau và tập cười với nhau trong những khó khăn và thử thách rất đời thường. Với những lo lắng tất bật và lòng ham muốn chạy ngược thời gian để về lại quá khứ vàng son, mọi người về để quên đi thời gian để sống trong tình yêu và với một tình yêu.

Với tư cách linh hướng trong khoá học đầu tiên và phụ tá linh hướng trong tuần thứ hai, điều làm tôi vui và hạnh phúc là thấy sự biến chuyển của những anh chị em tôi. Sự biến đổi của một người học yêu là họ trở thành tình yêu. Có lúc, tôi thấy anh chị em tôi như những “tình yêu” di động. Nơi họ, tôi không còn thấy tóc thẳng tóc quăn, áo xanh áo đỏ, mập cao ốm lùn, … Với những tình yêu di động ấy, cả trại lấp lánh những âm hưởng của tình yêu được lan toả từ một Tình Yêu mà học đang học.

Với sự đa dạng các tham dự viên, tôi thấy được sự cộng hưởng của họ trong cùng một lối nghĩ suy khi tôi mời họ nhìn vào ánh mắt của Tình Yêu. Ánh mắt của Tình Yêu trở thành con đường nhanh nhất để mọi người bước đến một cách chính xác cái cốt lõi của đời mình. Nơi cốt lõi thánh thiêng đó, từng người ngụp lặn trong cuộc gặp gỡ chính mình. Họ gặp lại họ, rõ như chưa bao giờ gặp và nhận ra rằng cái thằng tôi thẳm sâu trong cõi lòng ấy bỗng trở nên thân thương hơn, đáng yêu hơn, đôi lần đáng trách hơn, đau đớn hơn họ nghĩ, và cũng có lúc đáng thương hơn họ tưởng bên dưới cái hào hoa phong nhã của những chàng trai hay những yểu điệu thục nữ của những cô gái.

Cái điểm hẹn của thằng tôi ấy cũng là nơi từng người gặp gỡ Tình Yêu. Tình Yêu gọi họ bắt đầu một hành trình mới. Nơi hành trình này, họ không một mình loay hoay với cái tôi vốn có, nhưng hành trình họ giờ đây có những người bạn đồng hành. Những buồn vui sướng khổ trong cái túi đời của từng người dường như nhẹ hẳn với những  cánh tay sẵn lòng vươn tới họ. Khi học yêu, Tình Yêu làm cho túi đời lớn dần lên đủ chỗ cho tất cả mọi người; và cũng có một chỗ rất riêng cho cái tôi để nó chấp nhận những yếu đuối của thân phận con người.

Lần đầu tiên tôi hiện diện với khoá học Cursillo tại Giáo Phận San Jose, tôi làm những công việc như tôi thường làm. Mỗi nơi tôi bước qua, tôi đều cảm nhận được những nét rất riêng của từng địa phương; nhưng khi tôi quan sát, gặp gỡ, trò truyện với những anh chị em dự khoá và trợ tá, tất cả mọi nơi đều toát lên một nét tương đồng. Cái mẫu số chúng của tất cả mọi người chính là Đặc Sủng của Phong Trào. Đặc sủng dẫn họ đến trung tâm của cái Đạo Tình và dạy họ học yêu để trở thành người tình của Thiên Chúa. Khi đến với cái cốt lõi này, mọi người đều cảm nhận rằng mình được yêu, được yêu thật nhiều dù biết rõ mình có những yếu đuối, lỡ lầm, hay những tỗi lỗi. Được tắm gội trong tình yêu, từng người muốn đẹp hơn, xứng đáng hơn với Tình Yêu ấy. Từng người lại bước vào cõi lòng mình để bắt đầu một hành trình mới, hành trình trở về để làm đẹp mình với những nhân đức, biến mình mỗi ngày một xứng đáng hơn với sự thánh thiện của Thiên Chúa bằng việc cậy trông vào ơn thánh và cố gắng nên thánh mỗi ngày.

Trong hai cuối tuần này, tôi cũng gặp nhiều khoảng khắc “a há” của nhiều người. Cái khoảng khắc làm từng người “ngộ” ra điều họ tìm kiếm, điều họ khắc khoải, điều họ chờ mong. Những khoảng khắc đó làm cho từng người lấp lánh trên khuôn mặt họ những nét chấm phá của “ân sủng”. Khuông mặt anh A, chị B vẫn không thay đổi, nhưng Ân Sủng biến những khuôn mặt đó thành những khuôn mặt đáng yêu.

Phương thức của Cursillo tạo nên một sự “cộng hưởng ân sủng” làm cho môi trường sống trở nên những điểm đến cần khám phá. Từng Cursillitas với khuôn mặt của ân sủng, giờ đây quyết tâm sống như những “tình yêu” di động trong môi trường sống của mình. Sau hai cuối tuần ở đây, những tham dự viên nói thêm một ngôn ngữ mới mà chữ đầu tiên là “cursillo.” Nó có thể rất xa lạ với nhiều người, có thể không nhiều người hiểu nó là gì, và đôi khi nó làm cho một số người cảm thấy khó chịu; tuy nhiên, ngôn ngữ này giúp từng tham dự viên trở về lại những kinh nghiệm sống ba ngày và họ sẵn sàng chia sẻ ngôn ngữ này với mọi người bằng cách là bạn tốt, làm bạn với mọi người và cùng bạn bước về một Tình Yêu có tên Giêsu.

Hai tuần trôi qua với dư âm đọng lại của những cuộc gặp gỡ bên bờ Thái Bình Dương rì rào tiếng sóng, tôi nhớ đến những câu thơ của Hàn Mạc Tử diễn tả một vẻ đẹp của điểm hẹn tình yêu và xin phép ông viết lại những con chữ của ông cho một kinh nghiệm của người học yêu và ngắm nhìn những khuôn mặt ân sủng:

“Anh/em hãy làm thinh chớ nói nhiều,
lặng nghe tiếng hát của tình yêu,
lặng xem tha thứ vui nhịp bước
Ân sủng diệu vời giải nghĩa yêu.”

Cursillo là vậy, là lặng thinh để nhận ra mình được yêu, là tập thứ tha bằng cách để mình được tha thứ, và để sự quảng đại phục vụ trong ân sủng cất lời giải thích cho cuộc sống hằng ngày. Hai cuối tuần vừa qua đã giúp tôi xác tín hơn nữa Cursillo là một ân sủng vì đã biến những khuôn mặt của tham dự viên thành những khuôn mặt ân sủng, và học  bài học không có tốt nghiệp chính là yêu.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phong Trào Cursillo – Một Ước Mơ và Cố Gắng Nên Thánh

(Tác giả viết bài này cho Tập Kỷ Yếu mừng 20 năm Phong Trào Cursillo Ngành Việtnam tại Tổng Giáo Phận Boston, MA – 2019)

Mùa hè năm 2012, khi còn đang làm việc tại Đại Học Đức Mẹ Lên Trời tại thành phố Worcester, tôi có nhận một cuộc điện thoại xin cho Phong Trào Cursillo tổ chức tĩnh tâm cuối tuần tại trường vào kỳ nghỉ giữa kỳ của học kỳ Mùa Thu 2012. Vì các sinh viên đi nghỉ, nên có chỗ và cứ nghĩ là tĩnh tâm, nên tôi nhận lời. Sau đó hai tuần, tôi có cuộc hẹn với một anh, tự xưng là “Khoá Trưởng” đến để bàn thêm chi tiết. Sau cuộc họp, tôi được mời dự khoá và làm “linh hướng” cho khoá. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ là một cuộc tĩnh tâm bình thường. Nhưng khi trải qua cuối tuần đó với các anh em tham dự, tôi biết Chúa muốn tôi học nhiều từ họ về Một Ước Mơ và Cố Gắng Nên Thánh.

Thời gian trôi nhanh, tôi thay đổi chỗ ở và công việc. Tôi thỉnh thoảng đến họp nhóm nhỏ cho đến khi nhận lời mời làm linh hướng cho phong trào Cursillo tại Tổng Giáo Phận Boston, Hoa Kỳ, tôi có cơ hội học hỏi về Phong Trào Giáo Dân này. Tôi buộc mình phải hiểu về nó hơn bằng cách đọc những tài liệu căn bản về nó. Việc này làm tôi thực sự ngạc nhiên. Nó giúp tôi soạn bài cho nhiều cuộc tĩnh tâm với Phong Trào theo nhip của Giáo Hội và cũng từ đó, những bài nói chuyện của tôi ở chỗ này chỗ khác đều mang chút nét gì đó của Phong Trào.

Tại sao vậy?
Có thể trả lời rằng vì Phong Trào Cursillo là một cố gắng để “trở nên người Kitô Hữu trọn vẹn hơn, tốt hơn, thánh thiện hơn ở giữa đời.” Nó bắt đầu từ khao khát và ước mơ nên thánh của một người Tây Ban Nha: Eduardo Bonnín. Là một giáo dân, Eduardo muốn sống ơn gọi của Bítích Rửa Tội một cách nghiêm túc. Ông muốn sống trong lòng Giáo Hội với sự năng động của mình như một người tín hữu. Với ao ước đó, Chúa Thánh Thần đã chúc phúc cho ông và dùng ông để khởi sự một Phong Trào Giáo Dân trong lòng Giáo Hội. Ông đã dùng chính kinh nghiệm của mình để giúp các tín hữu và cùng các tín hữu biến ước mơ nên thánh thành sự thật qua cuộc sống.

Bắt đầu với những bạn của mình ở Mollorca và qua kinh nghiệm tình bạn, ông nhận ra là để biết Đức Giêsu Kitô nhiều hơn và kỹ hơn, cách tốt nhận là trở thành bạn của Đức Giêsu Kitô. Để trở thành bạn, học biết về bạn là điều phải làm, ông quy tụ vài người bạn với khoá học nhỏ về Giêsu và Tôn Giáo của Ngài và đây cũng là ý nghĩa của từ “Cursillo” trong tiếng Tây Ban Nha nghĩa là một khoá học nhỏ (ngắn) và khoá học cuối tuần ba ngày ra đời.

Khoá học ngắn gọn và nội dung chính là giới thiệu cho người Kitô hữu “bản đồ của hành trình đức tin”, đó chính là Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội của Ngài. Hành trình đức tin của mỗi người sẽ rất riêng vì từng người được tạo dựng rất riêng bởi tình yêu Chúa. Tuy nhiên, hành trình này cũng rất chung vì ai ai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa nhân từ và thương xót. Trên hành trình đức tin này, người Kitô hữu không lẻ loi đơn độc một mình, nhưng có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ mà Giêsu gọi cộng đoàn đức tin này là cộng đoàn của những người thân hữu (bạn hữu). Phong trào Cursillo trở thành một chiếc cầu nối những vòng tay của những người bạn. Bước vào phong trào là bước vào một tập thể, nơi đó từng người thành viên cố gắng sống “một tay níu lấy Chúa, một tay cầm lấy anh em” để nới rộng lên mãi vòng tròn của tình yêu, của tha thứ và của tình bằng hữu.

Là một thành viên của phong trào trong trách nhiệm của một người linh hướng, tôi học nhiều bài học từ những người bạn trong đức tin của tôi. Tôi luôn cảm nhận sức nóng của lời cầu nguyện mà anh chị em tôi đã cầu nguyện cho tôi. Tôi luôn được nâng đỡ bởi những bàn tay níu lấy tôi khi tôi đứng trước những cám dỗ và dịp tội. Bằng những ân cần lo lắng cho nhau, tôi kinh nghiệm được tình yêu Chúa qua anh chị em tôi.

Cusillo là vậy – Là những vòng tay nối dài những vòng tay. Giáo hội là vậy – Là những người kể cho nhau nghe về những kinh nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, Thiên Chúa tha thứ cho họ.

Cursillo là đây – Là những cố gắng trở thành bạn hữu với bất cứ mọi người, nhất là những người xa lạ, những người bị khinh bỉ, những người rất nghèo theo nghĩa rộng nhất của từ này. Giáo hội là đây – Là những người lữ hành nơi mặt đất xinh đẹp này, tận hưởng những vẻ đẹp của sáng tạo; nhưng cũng vươn lên và mở lòng mình ra với những ân sủng của trời cao để tập tành sống như những công dân của Nước Trời.

Cursillo là sống – Là kinh nghiệm về một con người có tên Giêsu. Giáo hội là sống những cử hành cụ thể về một con người. Giáo hội sống để làm những gì để nhớ đến một con người. Giáo hội sống để trở thành dấu chỉ của một con người, một tình yêu; chứ không phải một mớ lề luật với những điều được làm hay không được làm.

Cursillo mang trong mình sự nhiệm mầu của trời cao nơi những con người cụ thể. Đối tượng của Cursillo là con người với mục đích cao cả nhất của nó là sống một cuộc đời cao thượng. Giáo hội là một mầu nhiệm của một tình yêu cần khám phá, của một sự thứ tha cần phải kinh nghiệm. Đối tượng của Giáo hội chính là con người có tên Giêsu với mục đích trở thành bí tích của ơn cứu độ – một bí tích của tương giao đất trời.

Dù là một linh mục trong vai trò linh hướng cho phong trào giáo dân, tôi chia sẻ trách nhiệm với họ trên nền tảng Phép Rửa. Tôi hướng dẫn họ sống trong lòng Giáo hội và họ giúp tôi nhận ra tình yêu của Chúa trong đặc sủng của phong trào. Càng giúp Cursillo sống đúng đặc sủng của mình, tôi thấy mình được tắm gội trong những ước mơ và cố gắng nên thánh của các tín hữu Chúa. Tuy không xa lạ, nhưng Cursillo đã tưới mát những tâm hồn nguội lạnh với ân sủng Chúa, đã làm nhiều người dừng lại suy nghĩ để quay trở về với ước mơ đẹp nhất của một con người: ước mơ dần dần trở nên thánh thiện.

Việc kỷ niệm 20 năm phong trào hiện diện tại Tổng Giáo Phận Boson là một cơ hội cho từng thành viên nhìn lại hành trình của mình với những ân sủng của Chúa. Tôi xin chúc mừng mọi Cursillitas của Tổng Giáo Phận. Tôi cám ơn từng người và tất cả mọi người đã nhắc nhở tôi về một ước mơ và những cố gắng nên thánh trong từng ngày sống. Xin Chúa tiếp tục gìn giữ và chúc lành cho Phong Trào tại Tổng Giáo Phân Boston này.

DeColores!

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Linh Hướng cho Phong Trào Giáo Dân

Đây là bài nói chuyện của tác giả ở Đại Hội Cursillo Toàn Quốc Hoa Kỳ 2019

(Lý Thuyết và Thực Hành)

1. Tầm quan trọng của linh hướng

Chúng ta không cần phải chứng minh tầm quan trọng của linh hướng. Đó là một điều đương nhiên cần thiết cho đời sống thiên liêng của một ai đó hay của một phong trào nào đó để vươn tới sự hoàn thiện Kitô giáo. Linh hướng hiện hữu trong lòng Giáo hội ngay từ thưở ban đầu. Nó là một nghệ thuật theo nghĩa là một khoa học thực hành, được hướng dẫn bởi tiêu chuẩn khôn ngoan siêu nhiên cho một (người) phong trào cụ thể, và theo những nguyên tắc thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo. Nó được thực hành dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào các trường phái khác khau. Việc linh hướng được bắt đầu ngay khi một người có quyết tâm nên thánh và được đồng hành trong suốt quá trình ấy. Tương tự như vậy, một phong trào  giáo dân trong lòng Giáo hội cần được linh hướng ngay từ ban đầu vì nó được sinh và tồn tại nhằm đưa những thành viên mỗi ngày có mối quan hệ mật thiết hơn với Chúa.

Chúng ta cũng không phải bàn là vị linh hướng có phải là người có chức thánh hay không (linh mục hay phó tế).  Hành trình nên thánh là những quyết định thuộc về lương tâm, mà theo truyền thống ngàn đời của Giáo hội, Giáo hội cấm bất cứ những ai không phải là linh mục chất vấn những vấn đề thuộc lương tâm người khác. Áp dụng vào cho một phong trào giáo dân trong lòng Giáo hội, việc thánh hoá các thành viên qua những sinh hoạt cụ thể cần đến sự hướng dẫn của những thừa tác viên của Giáo hội, và nhất là việc cử hành các bí tích (Giải tội và Thánh Thể) như là công việc chung cao quý nhất  của cả Giáo hội trên hành trình tiến tới sự trọn lành.

Đối với Cursillo, sinh hoạt quan trọng cần có linh hướng là khoá Ba Ngày và các sinh hoạt của Ngày Thứ Tư (Ultreya và Trường Lãnh Đạo)

2. Mục đích của linh hướng

Mục đích cuối cùng của linh hướng là khám phá ra sự thật về chính mình để có thể trưởng thành một cách tốt trọn vẹn. Việc tìm kiếm sự thật dẫn đễn sự tự do nội tâm cao nhất có thể và trong sự tự do đó, những cam kết, đặc biệt và cam kết vâng phục ý muốn của Thiên Chúa cho chính mình/phong trào. Sự vâng phục này là một sự đồng ý hoàn toàn và là một sự chọn lựa với ý thức và tự do. Chính vì thế, việc tìm kiếm sự thật đòi hỏi người được linh hướng/thành viên của một phong trào phải có kiến thức về chính mình và phong trào của mình, để từ đó nhận ra ý Thiên Chúa dành cho mình là gì và nơi mà Thiên Chúa muốn hướng dẫn mình đến, để từ đó có thể vâng phục Thiên Chúa cách tron vẹn.

Mục đích của linh hướng giúp cho thành viên của một phong trào luôn thống nhất giữa những quyết định hay chọn lựa với ơn gọi và đặc sủng mà mình được mời gọi. Mục đích của linh hướng làm cho thành viên của phong trào thông nhất được đời sống của mình và những gì mình thực sự muốn.

Cuối cùng, mục đích của linh hướng giúp thành viên của một phong trào nhìn ra những chọn lựa của mình đáp ứng những đòi hỏi nào của đặc sủng phong trào, và nhất là những đòi hỏi của Tin Mừng mà mình được mời gọi làm chứng.

3. Linh hướng: một món quà và một nghệ thuật

Việc linh hướng vừa là một món quà, vừa là một nghệ thuật.

3.1. Món quà

Khi nói đến món quà, nghĩa là ta đón nhận được nó và không có quyền đòi hỏi nó. Nó là món quà vì tiến trình của nó hoàn toàn dựa trên sự tự do. Linh hướng là công việc đụng đến nơi sâu thẳm nhất của con người và của ơn gọi Kitô hữu. Đây là một mầu nhiệm và hơn thế nữa, linh hướng không thể thiếu một nhân vật khác là Thánh Thần. Nhân vật này hiện diện trong toàn bộ tiến trình và là người cất tiếng nói cuối cùng trong sự trao đổi giữa vị linh hướng và (người) phong trào được linh hướng.

Việc linh hướng cũng là một món quà của sự tin tưởng và cởi mở. Chính trong sự tin tưởng mà các tiến trình của linh hướng có độ dầy của suy niệm. Chính trong sự cởi mở mà sự trưởng thành được gieo mầm và lớn dần lên trong các quyết định.

3.2. Một nghệ thuật

Linh hướng luôn là một nghệ thuật vì nó là một hành trình khám phá những con người, chứ không phải là việc sửa chữa những vấn đề cho phù hợp với thời cuộc. Đứng trước một con người/phong trào, vị linh hướng đứng trước một mầu nhiệm cần khám phá, chứ không phải là một vấn đề cần được giải quyết. Để tiếp cận một mầu nhiệm, con đường nghệ thuật luôn được chọn vì nơi đó, sự uyển chuyển và năng động được xem như thế mạnh để có thể khám phá bao nhiêu có thể một thụ tạo có khẳ năng vươn lên qua quyết định trở lại con đường nên thánh.

Linh hướng là một nghệ thuật trở thành người môn đệ, chứ không phải là một công việc đào tạo một chuyên ngành.

Linh hướng là một nghệ thuật bước theo sự hướng dẫn của người khác mà không mất đi sự tự do trọn vẹn của chính mình. Cursillo, là một phong trào giáo dân, giáo dân là người quyết định theo sự hướng dẫn của vị linh hướng và cuối cùng là sự hướng dẫn của chính Chúa Thánh Thần, nhưng phong trào không hề mất đi sự tự do quyết định của riêng mình.

Linh hướng là một nghệ thuật lắng nghe để đón nhận và để bước vào một mối quan hệ thánh thiện và tri kỷ. Chính vì thế, đỉnh cao của linh hướng là nghệ thuật khiêm nhường để cho phép chính mình/phong trào hiểu được cuộc sống như nó là, hiểu được tình yêu như nó là, hiểu được một ơn gọi như nó là, hiểu được đời sống cầu nguyện như thế nào… và trong những sự hiểu biết ấy, một tâm hồn/phong trào có thể lớn dần lên trên đường nhân đức để tiến tới sự hoàn thiện Kitô giáo.

Với những điều trên, chúng ta cần một vị linh hướng như thế nào?

4. Những đặc tính của một linh hướng

4.1. Hiểu biết

Hiểu biết về thần học tín lý để tránh những vần đề sai lạc về đức tin.

Hiểu biết về luân lý để có thể hướng dẫn những gì liên quan đến sự hoàn thiện.

Hiểu biết về tâm lý để hướng dẫn và nhận ra những sự bất bình thường tâm lý.

Vị linh hướng của phải hiểu biết sự giới hạn của mình để biết rõ trách nhiệm và chịu trách nhiệm của mình trước mặt Chúa và Thánh Thần. Vị linh hướng cần hết sức cảnh giáo đến những sinh hoạt và những thông tin chuyên môn để sẵn lòng từ chối những gì mà mình không thể làm được.

4.2. Khôn ngoan

Đây làm một trong những đặc tính quan trọng nhất của vị linh hướng. Vị linh hướng cần có sự khôn ngoan trong phán đoán để có sự rõ ràng trong lời khuyên, và kiên định trong thuyết phục sự vâng phục.

Vị linh hướng không đưa ra những quyết đinh, nhưng đưa ra những lời khuyên chuẩn mực. Vì thế, sự khôn ngoan giúp vị linh hướng nhận ra những hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp cụ thể vào một thời điểm cụ thể. Những lời khuyên khôn ngoan được đưa ra thường toát lên sự thấu cảm với đương sự và sự kiên nhẫn trong việc lắng nghe đương sự.

Khôn ngoan làm cho lời khuyên của vị linh hướng rất rõ ràng từ trong suy nghĩ đến lời nói. Sự rõ ràng trong lời khuyên dẫn đến sự thẳng thắn và không có chút vị kỷ nào. Sự khôn ngoan luôn giúp vị linh hướng luôn nhớ là mình làm việc nhân danh Thánh Thần trong việc hướng dẫ các linh hồn. Thánh Thần luôn nhiệt thành uốn nắn các tâm hồn với sự hiền hoà, thông cảm; nhưng cũng rất cương nghị và thẳng thắn.

Khôn ngoan làm cho vị linh hướng luôn độc lập và đứng về phía sự thật dù có những nguy cơ bị lèo lái. Sự nghiêm khắc trong linh hướng phải phù hợp với đặc sủng, với ơn gọi và với hoàn cảnh của phong trào trong một hoàn cảnh cụ thể; để việc yêu cầu một phong trào vâng phục Thiên chúa không gây chia rẽ là làm nhụt chí các thành viên.

5. Kinh nghiệm

Kinh nghiệm là một điều đáng quý của vị linh hướng. Đôi khi vị linh hướng có những giới hạn trong kiến thức, nhưng kinh nghiệm sẽ bù đắp lại. Kinh nghiệm ở đây chính là kinh nghiệm thiêng liêng của chính Ngài với Thánh Thần và với cố gắng nên thánh.

Một vị linh hướng có kinh nghiệm là một vị luôn nhớ mình là dụng cụ của Thánh Thần Chúa và kinh nghiệm giúp vị linh hướng luôn nhớ chính bản thân mình cũng phải hoàn toàn quy phục vào sự hướng dẫn của Thánh Thần. Chính kinh nghiệm không làm cho vị linh hướng trở thành những rào cản đối với ơn thánh của Chúa đang hoạt động trong phong trào.

6. Lòng đạo đức khiêm nhường

Vị linh hướng phải thấm nhuần bởi những chân lý căn bản của người Kitô, luôn đặt Chúa Kitô là trọng tâm và mọi sự hướng về vinh quang Thiên Chúa. Lòng đạo đức giúp vị linh hướng có kinh nghiệm được yêu thương, được tha thứ, được lớn lên trong ân sủng và tương quan với Chúa. Khi đó, vị linh hướng sống siêu thoát khỏi những sự phàm tục để nhìn rõ hơn những gì cần thiết cho người/phong trào đến xin linh hướng.

Lòng đạo đức giúp vị linh hướng có lòng nhiệt tâm trong việc thánh hoá các linh hồn. Thánh Phaolô đã diễn tả sự nhiệt tâm này bằng việc “trở nên mọi sự cho mọi người,…vui với người vui, khóc với người khóc.” (Cf. 1 Cor. 9:22). Lòng đạo đức này giúp vị linh hướng vượt qua được những khó khăn trong linh hướng và sẵn sàng để mọi sự bên ngoài chính mình (Let go) và không để những khó khăn đó trở thành gánh nặng.

Lòng đạo đức giúp vị linh hướng luôn đặt mình trước mặt Chúa để biết sống khiêm nhường, và đôi lúc phải nghi ngờ chính mình khi cần. Sự khiêm nhường sẽ giúp vị linh hướng tránh đi những sai lầm không đáng có trong khi giúp một người/phong trào tiến gần đến Chúa. Sự khiêm nhường cũng tránh cho vị linh hướng đặt mình là trọng tâm của tiến trình nên thánh. Chỉ duy một mình Đức Kitô là trung tâm và Ngài sẽ dẫn chúng ta đến Thiên Chúa là Cha của ngài.

7. Vô vị lợi

Việc linh hướng chỉ có lợi ích khi nó có phát xuất điểm là sự vô vị lợi. Vị linh hướng không hướng dẫn để thoả mãn bản thân hay nhận bổng lộc gì; nhưng chỉ dẫn họ đến Chúa. Vị linh hướng luôn phải hết sức để ý khi thấy Chúa hiện diện và làm việc với người được linh hướng, thì chính mình phải rút lui để Chúa và họ làm việc.

Sự vô vị lợi nói đến đặc tính tự do của việc linh hướng. Chính sự vô vị lợi này làm cho sự tự do này được tôn trọng một cách tối đa. Khi một ai đó/phong trào cần một sự hướng dẫn chuyên môn hơn, vị linh hướng sẵn lòng chuyển giao hoặc không hề khó chịu khi ai đó/phong trào nào đó xin được thôi việc linh hướng với mình.

Trên đây là lý thuyết về linh hướng. Trong lý thuyết này, có những bổn phận được đưa ra cho vị linh hướng và người/phong trào đến xin linh hướng. Đó là gì?

8. Bổn phận của một vị linh hướng

8.1. Biết người/phong trào mình hướng dẫn

8.2. Đưa ra sự chỉ dẫn

8.3. Khuyến khích người/phong trào xin linh hướng

8.4. Đồng hành với người/phong trào xin linh hướng

8.5. Sửa chữa những khuyết điểm

8.6. Hướng dẫn theo từng giai đoạn một cách tiệm tiến

8.7. Cẩn mật

9. Trách nhiệm người/phong trào xin linh hướng

9.1. Chân thành

9.2. Sẵn lòng với những hướng dẫn để tìm ra quyết định đúng nhất có thể

9.3. Kiên trì

9.4. Cẩn mật

10. Tương quan giữa vị linh hướng và người/phong trào được linh hướng

10.1. Kính trọng

10.2. Tin tưởng

10.3. Có tình yêu siêu nhiên

11. Nội dung của linh hướng

Có một sự khác biệt căn bản giữa linh hướng cho một người và cho một phong trào.

Đối với một phong trào, ngoài những sinh hoạt thường kỳ và định kỳ của phong trào, vị linh hướng nên sẵn lòng:

11.1. Là sự liên kết giữa phong trào và các vị thẩm quyền trong Giáo hội

11.2. Giúp đỡ những thành viên của phong trào, đặc biệt là những thành viên có trách nhiệm với phong trào.

11.3. Tổ chức những buổi học hỏi và tĩnh tâm nhằm đắp ứng nhu cầu tâm linh của các thành viên phong trào theo lịch phụng vụ của Giáo hội.

 July 2019.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thứ Năm Thánh

Không có một ngày nào và cử hành nào lại mang tính Công Giáo hơn ngày thứ Năm Thánh, ngày khởi đầu cho một cử hành kéo dài trong ba ngày. Cử hành ngày hôm nay có tên gọi là “Bữa  Tiệc Cuối Cùng.”

Khi mặt trời khuất bóng, Tam Nhật Thánh bắt đầu với những cử hành của Bữa Tiệc Ly.
Việc Giêsu xuất hiện trong cõi trần này đã làm thế giới đảo lộn tùm lum hết; và trong bữa ăn cuối cùng này, Giêsu dạy cho các học trò thân cận nhất của mình cách đảo lộn thế giới họ đang sống. Không biết là họ có làm được không; nhưng Giêsu đã đảo lộn cuộc đời họ.

Là người Dothái, Giêsu và các học trò mình luôn biết rõ việc “sạch dơ” trong bộ luật. Nhà nhà đều có những cái lu nước trước hiên dùng trong việc thanh tẩy. Với dòng máu du mục và nền văn hóa sa mạc, người dân Dothái sống lòng hiếu khách như một dấu chỉ của lòng kính trọng Thượng Đế; và một trong những cử chỉ đó là rửa chân cho những người lữ hành ghé ngang. Đương nhiên, việc này là việc của người đầy tớ.

Thế mà trong bữa Vượt Qua theo luật khi hoàng hôn xuống, khi mọi người háo hức kể về việc vượt qua của cha ông, Giêsu lặng lẽ cởi áo, lấy nước rửa chân cho học trò mình. Ông Phêrô phản ứng thật dễ hiểu: không bao giờ thầy rửa chân cho con… Giêsu âu yếm trả lời là anh phản ứng đúng đấy; nhưng anh không hiểu thầy làm gì. Thầy là thầy mà rửa chân cho anh, thì anh em hãy làm như vậy. Thầy sắp chết rồi và không còn ở với anh em nữa, thầy muốn anh em làm đảo lộn thế giới này bằng cách này. Anh em sẽ là “thầy tu” theo cách của Thầy. Cái luật tu của thầy chỉ có vài chữ thôi: “Hãy yêu nhau NHƯ Thầy yêu anh em.”

Là thầy tu, anh em trở thành người hướng dẫn người khác trong cầu nguyện với Thượng Đế, xung phong đi đầu trong cuộc chiến tinh thần chống lại cái ác, sẵn lòng trở thành lỗi tai cho ai muốn kể lể, luôn là mái nhà để đau khổ khó khăn của người khác lắng xuống. Anh em đừng tưởng hướng dẫn người khác là lãnh đạo, đừng tưởng đi tiên phong là có người tung hô hay bảo vệ, không bao giờ được phép đưa ra quyết định gì ngoài việc ôm ấp yêu thương người đến đổ rác của họ vào cuộc đời anh em, và nhất là sẵn lòng chết để cho ai đó bớt đau hơn một chút.

Là thầy tu theo phong cách Giêsu thì phải tu NHƯ Giêsu. Tu NHƯ Giêsu là yêu NHƯ Giêsu. Yêu NHƯ Giêsu là cởi áo ra, quỳ xuống trước từng người mà rửa chân cho họ như một tên đầy tớ nhé. Bất cứ ai đều là chủ của anh em và anh em phải phục vụ họ như một người tôi tớ. Anh em có hiểu không?

Một năm một lần, anh em rửa chân cho một số người trong nghi lễ thì cũng dễ dàng thôi; nhưng anh em phải sống 364 ngày còn lại trong hành động này. Khi mỗi ngày mới gõ cửa phòng của anh em, anh em thấy mình là gì? Là đầy tớ của mọi người và làm công việc của người tôi tớ, hay anh em sống như ông “thầy phán.” Phán nhiều quá đến nỗi người nấu bếp sợ có lúc són cả ra quần. Hay anh em sống như ông “thầy chỉ.” Chỉ nhiều quá đến độ cứ tưởng tay mình cầm cây đũa thần vung lên vung xuống làm thành cái bệ trên đầu trên cổ người khác để nhảy lên ngồi chễm chệ mà quên đi họ là những người đang vất vả khó nhọc làm việc của mình. Hay anh em sống phung phí xa hoa như ông “thầy biết.” Biết hết mọi sự đến độ đưa ra các phán đoán nặng nề sai trái như tên thẩm phán ngu xi không cần lắng nghe mà hiểu cho hết tình hết lý của những bất công oai trái ngay cả nơi những người âm thầm lo lắng cầu nguyện cho mình. Hay anh em sống như ông “thầy hưởng.” Hưởng quá nhiều bổng lộc trần thế đến độ quên ngày để sơn hào hải vị trong tủ lạnh và khi chúng mốc meo lên thì đem đổ ngay trước mặt những người chỉ mong “lượm thùng rác” của cha để mà sống vui sống khoẻ. Anh em có hiểu không?

Là người Dothái, Giêsu và đồ đệ mình biết rất rõ việc chuẩn bị thức ăn cho bữa Tiệc Vượt Qua quan trọng này. Cả nhà quây quần bên bàn ăn với thức ăn được quy định hẳn hoi: là một con chiên đực đúng một tuổi và không bị thương tật hay tì vết nào, ăn thịt chiên nướng với bánh không men và rau đắng. Cách ăn cách mặc của bữa này cũng được ghi xuống cẩn thận. Cửa thì đóng, máu chiên thì bôi lên cửa, mang dép có quai, thắt lưng, tay cầm gậy và ăn vội vàng như chạy giặc. Trong bối cảnh linh thiêng và trang trọng ấy, Giêsu cầm lấy Bánh, chúc tụng tạ ơn và bẻ ra rồi nói: Hãy cầm lấy mà ăn, thịt Thầy đây. Giêsu cầm lấy chén Rượu, lớn tiếng chúc tụng và trao cho đồ đệ và nói: Hãy cầm mà uống, máu Thầy đây. Máu Giao Ước ở cái đà ngang cửa ra vào sẽ được thay bằng máu Thầy. Thầy lấy Máu Thịt Thầy làm lương thực nuôi anh em để anh em sống trong Thầy, thì anh em hãy đảo lộn thế giới này bằng cách trở thành lương thực nuôi mọi người; và đây là cách duy nhất anh em NHỚ đến Thầy.

Thầy không bắt khó anh em, nhưng anh em là thầy tu theo cách của Thầy thì phải NHỚ cách Thầy tu để mà bắt chước. Là thầy tu, anh em ráng hết sức mà sống như chiên không tì vết để người khác mang anh em lên bàn thờ mà tế lễ. Cuộc đời của anh em phải nhỏ lại để người khác có thể cầm được, để người khác bẻ vụn ra. Anh em phải ráng rèn luyện thân phận của mình có nét đẹp như lời chúc tụng tạ ơn dù anh em là xác thân mê muội với biết bao lỗi lầm. Anh em có hiểu không?

Nói với mọi người Thánh Lễ là hy tế thập giá của Giêsu Kitô chắc cũng không khó lắm và chẳng mất nhiều năng lượng; nhưng mỗi ngày anh em tham dự vào lễ tế cuộc đời Thầy trong cương vị chủ tế của cộng đoàn vì lợi ích gì? Anh em dâng lễ để cầu thay nguyện giúp cho bàn dân thiên hạ; hay anh em hí hửng vì cái bổng lễ to. Bàn dân thiên hạ xin lễ nhiều quá và anh em có chú ý đến những ý nguyện của họ; hay anh em chỉ loay hoay tìm cái lễ béo mà mất hết giờ chuẩn bị dâng lễ cho đàng hoàng chu đáo. Anh em có thinh lặng dọn mình nghiêm túc bằng suy niệm những gì phải chia sẻ; hay anh em lấy chuyện con Mít với thằng Xoài nơi tờ báo lá cải để buôn chuyện cho hết giờ. Khi đọc kinh sớm tối, anh em có để lòng mình sống theo hơi thở của dân Thiên Chúa trong các ca vịnh; hay anh em hít lấy hít để cái sầu riêng của mình và coi như trời sắp sập nếu nó không biến thành cái sầu chung để khoe khoang làm cớ cho mọi người ca tụng và khen ngợi mình là người can đảm giỏi giang. Anh em có hiểu không?

Là thầy tu theo cách của Thầy, anh em có sẵn lòng để cuộc đời mình bị người khác ăn đến hao mòn chưa? Anh em có sẵn lòng để tấm lòng mình bị người khác uống đến chẳng còn gì chưa? Anh em phải tu để đời anh em, tấm lòng anh em, để từng hơi thở, từng thớ thịt, từng giọt máu của anh em trở nên thơm ngọt như một bữa cơm mẹ nấu. Anh em có hiểu không?

Thứ Năm Thánh hôm nay vẫn được gọi là sinh nhật của chức linh mục. Ban ngày, thằng tôi này mừng sinh nhật chức linh mục của nó trong một nhà dưỡng lão nhỏ bé; và khi hoàng hôn về, nó cử hành nơi nguyện đường với anh em nó. Nó bật khóc vì thấy rõ mình chẳng tu theo kiểu của Thầy nó. Nó cũng yêu, nhưng tim nó cứ vớ vẩn vương vấn cái gì đâu đâu đó mà chẳng chịu yêu NHƯ Thầy. Nó cũng đọc kinh sớm tối mỗi ngày với anh em và dâng lễ khi đến lượt, nhưng đời nó như cục xương khó gặm lại làm người khác mắc nghẹn.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày học bài học để trở thành ông thầy tu.
Thằng tôi cầu nguyện và tha thiết xin ông Thầy Giêsu đừng rời bỏ nó vì những ngu dốt không hiểu bài học tu của nó. Nó nghe rõ lắm tiếng Giêsu hỏi: anh có hiểu không? Anh có kinh nghiệm được Thầy yêu anh không? Anh có dám ăn Thịt và uống Máu Thầy không? Ngồi một mình với Thầy Giêsu trong thinh lặng và ánh đèn mờ của nhà chầu, thằng tôi không biết nói gì, nó thinh lặng ngắm nhìn nơi Giêsu chọn ở lại để mong gặp được ánh mắt yêu thương của Giêsu, cho dù có chút gì đó trách móc nó vì tu chẳng ra hồn. Nó mong nghe rõ tiếng tim thổn thức của Thầy Giêsu để ráng mà uốn nắn tim nó trở nên hiền lành khiêm nhượng như Thầy.

Ôi ngày thứ Năm Thánh, ngày thằng tôi mong điều cuối cùng nó có chỉ là Giêsu và tình yêu của Thầy; ngày nó mong không gì ràng buộc nó để nó tự do yêu với kinh nghiệm được yêu bởi Giêsu; ngày nó mong được bé nhỏ để bị bẻ vỡ vụn ra với kinh nghiệm lập lại lời của Giêsu: cầm lấy mà ăn, mà uống để nhớ đến Thầy.

(Tuần Thánh 2019)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngày Của Im Lặng Cúi Đầu

Đúng chín tháng trước lễ Giáng Sinh, Giáo hội luôn mừng lễ Truyền Tin. Gọi thế cho đúng tên và phải phép, chứ thực ra Giáo hội mừng ngày một người thiếu nữ có thai trong lịch sử nhân loại này. Nói cho chính xác là Giáo hội mừng cái “tích tắc bắt đầu” của một con người, dù lúc ấy chưa thành hình thành dạng của một con người như lời kinh được đọc chính ngọ của người Kitô hữu: “Chốc ấy (phút giây ấy), Ngôi thứ Hai xuống thế làm người.”

Ngày lễ này thật lạ.
Ngày mà (Ngôi) Lời của Thượng Đế vô hình, Đấng ở ngoài thời gian và không gian nên chẳng có gì chứa được Ngài, trở thành hữu hình nhỏ bé, và bắt đầu sống nhờ ở đậu nơi dạ con của người phụ nữ nghèo miền quê Nazareth có tên Maria. Sự kiện này đã được đếm đến 2019 lần rồi.

Cái “tích tắc bắt đầu” ấy xảy ra nơi cái dạ con tối tăm im lìm đã không làm cho bất cứ một ai có thể biết được; vì cuộc sống và mọi sinh hoạt, mọi sự cứ vẩn chuyển đều như bình thường của mọi ngày. Cái thế giới lúc ấy chắc ít ồn ào như bây giờ; nhưng không vì thế mà kém tiếng động thân quen của một làng quê tràn trề tiếng cười nô đùa của con trẻ. Làng quê ấy chắc chắn là không có những dấu ấn của hiện đại; nhưng không vì thế mà mất đi những nét vất vả bon chen trong cuộc sống trên mặt trên lưng của những người có trách nhiệm mang ít thức ăn đặt lên bàn trong bữa cơm chiều. Ánh bình mình của ngôi làng ấy không ráng ló dạng qua bức màn ô nhiễm không khí như mặt trời buổi sớm của khu công nghiệp; nhưng những tia ấm bình minh ấy vẫn có thể làm ngột ngạt những mối quan hệ sai trái, hay làm nóng thêm những căng thẳng của các mối quan hệ gia đình nơi mà cả làng ai cũng biết ai. Hoàng hôn về trên ngôi làng ấy không thể làm chứng làm cho những dịch vụ thương mãi vô liêm sỉ trở nên sầm uất như khu đèn đỏ của của thế giới văn minh; nhưng cũng đẩy đưa những trao đổi thầm kín của ao ước thấp hèn của ham muốn phận người.

Cái thế giới này sẽ tiếp tục được đếm đến 2050 hay 3870, hay đến con số nào đi nữa, thì mặt đất này, cái lòng của mẹ đất này vẫn mang thai và sinh ra những phận người với những hỉ-nộ-ái-ố nơi tâm tưởng, luôn ngập đầy những tham-sân-si trong lối sống và tiếp tục gây thêm nhiều những sầu thương – ai oán của loài thụ tạo trong từng cuộc sống tương quan. Song song với những tội tình ấy, mẹ đất giờ đây không cô đơn một mình; vì Thượng Đế, Đấng sáng tạo nên nó bước vào trong nó. Thượng Đế bước vào đời như anh chàng bình thường với tình yêu khôn tả. Anh ta bước vào đời và con người thấy Anh như cách Anh chỉ cho họ thấy một cách rõ ràng tường tận. Này nhé, Thượng Đế này có tim nhé và tim Anh bắt đầu đập trong lồng ngực. Này nhé, Thượng Đế này không phải là không hình không dạng nhé vì Anh không miễn nhiễm với những lao động vất vả, kể cả thèm ăn thèm mặc. Này nhé, Thượng Đế không chỉ là quyền năng vạn đại nhé vì Anh luôn yếu thế bất lực trước những dồn nén bất công và dối gian vu khống. Này nhé, Thượng Đế không chỉ dư tràn phúc lộc vì Anh cũng đã từng tan nát cõi lòng đến độ lệ rơi không giấu được khi có người bạn chết.

Cái tình đã làm cho Thượng Đế vô hình trở thành hữu hình và Anh không thể đứng ngoài “cái xác hay chết” của con người. Anh đã không hề muốn thấy cái chết làm chủ con người. Anh không muốn công trình tạo dựng có giây phút định mệnh khi cái chết rống lên như quyết định cuối cùng không thể trốn chạy; và Anh đã bước vào cái xác hay chết đó, không hề khác cái xác của chúng ta. Cái xác Anh không chỉ đơn giản là cái gì đó để mà thấy; nhưng Anh bước vào các xác này với tất cả sự thật của nó, không những để ôm lấy hết mọi lỗi tội thối tha, nhưng sống cho đến tận cùng cái xác phận này

Với cái tình của mình, Anh bắt đầu biến những gì nối kết với anh trở thành đền thánh và cái đền thánh đầu tiên chính là cái dạ con tối tăm im lìm ấy, để từ từ như cấp số nhân, khắp chốn không gian đều trở thành “thánh điện của cuộc tình.” Cái tình luôn làm Anh không bao giờ cảm thấy đủ để sống cùng, sống với mọi người; nên Anh muốn trở nên từng thớ thịt, từng giọt máu của mọi người. Anh nói trong tha thiết ân tình hai động từ làm ngớ ngẩn người nghe: “Ăn đi nào, Uống đi nào.” Ăn cho thật đã Mình Anh – Uống cho thật say Máu Anh để Cái Tình Anh như chất keo hoà quyện  không phân biệt đâu là Anh và đâu là người nữa. Anh biết cái xác của anh sẽ chết thật nên Anh buông bỏ trọn vẹn để Cha muốn làm gì thì làm. Anh cũng sợ hãi cái thập tự giá treo cái xác của Anh lủng lẳng giữa trời như thế lắm; nhưng Anh cứ ráng không chống chọi lại cái ý của Cha. Anh chết lơ lửng để cây thập giá từ khi đã dựng lên rồi sẽ mãi sừng sững đứng đó; một đầu cắm vào mẹ đất, một đầu vươn ra tận ngoài thời gian và không gian, để mặt đất đầy sỏi đá khô cằn chết chóc đang phủ đầy những cục tội thối thủm như phân biến nên mảnh đất đầy phù sa lấp lánh những dòng sữa và mật. Anh biết rõ sức nặng của cái xác và tình yêu của Anh làm cho cây thập giá lún xuống thật sâu vào lòng đất mẹ để không ai có thể bứng nhổ Anh ra khỏi lịch sử của nó; và luôn vững chắc cho tất cả mọi thụ tạo và cả vũ trụ bao la vô tận leo lên mà bước vào thế giới “bên kia” như Anh từ “bên kia” bước vào lòng thụ tạo.

Ngày lễ này thật lạ.
Ngày mà “cái nhục” (thịt) con người, cái cục đất sét mà Thượng Đế nhào nặn lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nghĩ mãi không ra: sao ông Chúa nhà mình không “úm ba la” một cái là ra một Anh người khôi ngô tuấn tú, quyền năng vô song để cho bàn dân thiên hạ hết đường từ chối và quỳ gối lạy lục cho mà biết tay. Ngày mà cái cục đất sét từ thủa ban đầu ấy tự nhiên có giá trị hẳn lên so với ngày mà “mẹ chúng sinh” căng mắt ra nhìn quả cấm nó mới đẹp làm sao. Cứ ngỡ  giơ tay rờ đụng trái cấm để có cái cảm xúc thăng hoa, cứ ngỡ nhâm nhi từng miếng rồi nuốt từ từ để thưởng thức cái vị êm phê nhè nhẹ.

Đẹp đâu chẳng thấy, cảm xúc đâu chẳng biết, êm phê nhẹ nhẹ đâu không có mà chỉ thấy những cái gì đâu đâu ấy, hình như được gọi là cái dục thì phải. Cái nhục mà Thượng Đế gọi là “tốt đẹp tuyệt vời đó” bỗng dưng vồ cái “dục-tình” tạo nên muôn vàn giống tội. Cái nhục mơn mởn sức sống thánh thiêng do Thượng Đế đụng cái mũi của Ngài vào ngày ấy bỗng dưng chụp cái “dục-quyền” vào mình trở nên bạo chúa cô đơn. Cái nhục nhẹ nhàng êm ái nghỉ ngơi bên Thượng Đế vào ngày thứ Bẩy đầu tiên ấy bỗng dưng khều cái “dục-tiền” phủ lên mình để biến mình từ công chúa thành con sen ghẻ lở, lác chóc rỉ ra những thứ hôi hám như cái xác chết sình. Bỗng dưng Thượng Đế Truyền Tin khắp cõi thụ tạo rằng Thượng Đế cần cái nhục với ba cái dục ấy và Thượng Đế sẵn sàng trả bằng bất cứ giá nào mà cao nhất là tình yêu tự do đích thực.

Bỗng dưng ở cái làng bé tẹo tèo teo, trong thụ tạo nghèo nàn không ra gì có được duy nhất một “Cục Yêu” đáng cái “bất cứ giá nào đó” của Thượng Đế. Cái “Cục Yêu” đó bỗng dưng thốt lên cái lời Thượng Đế muốn nghe: “tôi chỉ là cái nhục hèn mọn, xin cứ tự do yêu thương muốn làm gì thì làm” và bỗng dưng trong cái “tích tắc bắt đầu” đó, có cái Nhục MỚI – cái nhục THẦN-NHÂN – “CÁI NHỤC được sinh ra mà không phải được tạo thành”. Trong cái Nhục MỚI này cũng có cái DỤC hoàn toàn KHÁC. Cái DỤC KHÁC này chính là “xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Thế là cái NHỤC DỤC hoàn toàn MỚI KHÁC bỗng trở thành tâm điểm lịch sử, trở thành Nguồn Năng Lượng của sức sống thánh thiêng, và của kết hợp trọn vẹn. Cái NHỤC DỤC MỚI KHÁC đó nằm dài trên thập tự giá, giang tay ôm ấp lấy thụ tạo bao la và ôm ấp lấy vĩnh cửu giới hạn. Thập tự giá thành chiếc cầu nối hai bờ tình; một đầu cắm chặt vào lòng mẹ đất và một gắn kết không rời vào bờ vai Cha.

Kể ra cũng lạ.
Từ cái ngày truyền tin cùng với cái “tích tắc ban đầu” ấy, nơi cung lòng của Thượng Đế Tam Vị vô hình, bỗng lung linh một hình hài nhục thể người. Cũng cùng giây phút ấy, thụ tạo hư vô tìm lại được giá trị của bóng hình Tình Yêu Vĩnh Cửu. Và rồi từ đó, mọi cái nhục cùng với cái ba cái dục nếu sống bằng và sống theo cái lối xin vâng khiêm nhường và tình yêu thiết tha thì bỗng dưng gặp  lại được Thượng Đế với lòng xót thương vô ngần làm cho nó thành cái Nhục Dục hoàn toàn Mới Khác. Có lẽ không ai có thể biết được cái mới khác đó xảy ra như thế nào; nhưng sẽ cảm được nó lạ lùng lắm. Lạ lùng đến độ làm lòng người mẩn mê điên dại.

Thằng tôi này đã mê mẩn đến điên dại cái ngày lạ lùng này. Nó cử hành cái lạ của ngày này để nhớ cái nhục dục của nó có thể thành thiêng liêng, để cầu xin cho cái nhục dục của nó được sống tròn đầy cái mới khác. Thằng tôi mê mẩn đến điên dại cái ngày truyền tin này. Nó mở tiệc tùng to như hội vì biết rằng cái nhục dục có tên cục tội được gọi bằng tên mới: “cục yêu.” Cái mê mẩn điên dại ấy làm nó xao xuyến cõi lòng nhưng cũng rạo rực từng thớ thịt; và tất cả những mê mẩn điên dại cùng xao xuyến rạo rực ấy làm thằng tôi nhận ra rằng: cái đẹp nhất mà con người có thể làm được trong ngày lễ thật lạ này chỉ là im lặng cúi đầu.

Tu cho thật kỹ.
Sống cho thật đầy.
Để nhục dục được thay
qua cúi đầu im lặng.

(Lễ Truyền Tin 2019)
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vòng Xoay Đất Trời

(Tiết Xuân Phân 2019)

Trước đây, thằng tôi này được sinh ra ở nơi chỉ có hai mùa mưa nắng. Thời gian trôi mau và thời cuộc đưa đẩy, thằng tôi này được hưởng cái đẹp của bốn mùa của vũ trụ tạo vật. Từ đó, thằng tôi này lấy làm thích thú khi tiết trời đổi thay và hôm nay là ngày đầu tiên của tiết Xuân 2019 theo con lịch mặt Trời. Thằng tôi quyết chí dành một canh giờ để không làm gì, để được đất trời ôm lấy nó trong cái đổi thay của thời gian.

Trong cùng một góc nhỏ của khu vườn nhà, ngồi ngay đầu của chiếc ghế sắt quen thuộc, kéo cái áo cho kín cổ và hớp lấy một ngụm nước nóng cho ấm, thằng tôi nhắm mắt để  nhìn vào sự mênh mông, bất động để lấy sức tham dự vào sự tưởng tưởng, im lặng để nói hết những gì hiện hữu nó muốn lên tiếng. Thằng tôi sẵn lòng để lương tâm nó dẫn nó đi lại những dấu chân của những ngày tháng bận rộn vừa qua để vui, để buồn, để cười, để khóc, và nhất là để học tiếp những bài học của phận người mong manh.

Thằng tôi vui nhiều vì trong hai tiết Thu Đông vừa qua, nó làm việc như con ong mật. Nó nhận thấy mình như người thợ “không chuyên” nhưng “cần cù chịu khó” cày bừa với những cam kết của đời sống và những lời mời của những người thương cho nó học thêm về họ. Nó chăm chỉ làm với hy vọng nhỏ nhỏi là không ai thất vọng về những cam kết của nó và ai đó, ít là bằng lòng với lời mời thằng tôi này cộng tác trong chương trình của họ. Có những cuối tuần nó vui nhiều vì viết nghuệch ngoạc đầy trang giấy những ý tưởng nó rút ra từ những cuốn sách nó đọc, những bài viết nó tham khảo. Nó cũng thi thoảng quên cả ngủ để cày cho xong những con chữ vì sợ mất đi những điều nó phải sắp xếp lại để có được tí chút gì đó mà nói năng cho ra ngô ra khoai và cho ai đó không ngủ gật gù khi nghe nó nói chuyện.

Hằng ngày, thằng tôi này tiếp tục vất vả học cho trọn cái tình của đời sống xuất gia. Nó luôn thấy mình như chú tiểu chậm hiểu, học mãi những bài học đầu tiên. Nó càng gắng học cho giống anh Thầy Giêsu của nó và chỉ mong giống chút chút thôi; nhưng sao mãi chẳng được gì. Nó không vui vì những thất bại trong bài học, nhưng nó vui vì dường như những thất bại đó đưa nó vào một không gian rộng mở mênh mông của sự Hiện Hữu tinh ròng; nơi tâm hồn nó được chạm đến sự Vĩnh Cửu thăm thẳm như muối vô hình trong từng con sóng nhỏ lăn tăn vuốt ve bờ cát. Thằng tôi không vui vì những lần mệt mỏi chán chường trong những thói quen của ngày sống, nhưng nó vui vì những nhàm chán đó luyện cái tai của nó để nghe được tiếng thì thầm của Thinh Lặng đang vội vã thì thầm vào hồn nó như giọng của hai người đang yêu nhẹ nhàng thủ thỉ bên tim để ánh trăng đêm không vỡ vì tiếng gió của những âm kết nên hai chữ “trung thành.”

Có những cuối tuần chạy việc xa nhà, lái xe giữa những cao tốc văn minh, ngắm nhìn những toà nhà cao tầng  hay những công trình được cho là biểu tượng của văn minh hiện đại, thế nhưng thằng tôi cứ cảm thấy lạc lõng làm sao ấy và nó buồn đến tê tái vì chỉ thấy cái cô đơn tột cùng của những phố phường đông đúc hiện đại. Cũng có những buổi sáng, trên chiếc honda cũ kỹ mượn người từ người anh em, thằng tôi đi cày khi sương còn chưa khô trên cỏ. Nó hòa vào dòng người vội vã đi lấy hàng sớm để kịp chuyến chợ ban mai. Thi thoảng, nó cũng dừng lại để hít lại vào lồng ngực nó những mùi vị thời thơ ấu: mùi của phân còn dính lại nơi mớ rau củ quả, mùi tanh mới của những chú cá tranh dành nhau tí nước trong cái thau chật chội, mùi nóng của thịt dưới cái dao sắc nhọn đang lướt qua lướt lại để ra hàng, mùi tô phở thơm nồng lá quế, mùi hành tỏi thơm lừng trong chảo dầu sôi, mùi thơm của hũ muối mè rắc lên chén cơm  thơm nồng mùi gạo mới, mùi mắm nhĩ thơm lừng làm dĩa rau luộc thêm đậm đà…và tất cả những mùi này dẫn đến những vị đượm tình gia đình và làng xóm láng giềng. Thằng tôi vui sống lại những kỷ niệm với những mùi vị quê hương đó, nhưng nó cũng buồn nhiều vì nếm được những lận đận long đong cùng với đắng cay vất vả của những giọt nước mắt và mồ hôi lam lũ của đồng bào nó.

Hơn cả niềm vui khi thằng tôi này ở giữa những tiếng cười của anh chị em đồng môn của nó để học hỏi thêm những cách sống của họ. Giữa cuộc sống đầy bon chen, xô bồ và phức tạp, thằng tôi này rất vui được dạo bộ với những người bình thường như nó, ngồi ăn nơi quán bên vệ đường, được nghe tiếng lòng nhau với những băn khoăn và thổn thức. Đôi lúc giữa những tiếng cười đó là hình bóng Giêsu đang khóc cứ ẩn hiện mờ ảo trong từng lời tâm sự, từng nỗi đau và hy sinh của kiếp sống rất riêng. Những người đi trước với kinh nghiệm thời gian chỉ ra những lối mòn dẫn đến những nỗi đau cần tránh; nhưng tình yêu thì cứ mời gọi bước vào con đường tình có tên Giêsu để rồi trong Giêsu, anh chị em lại mang vác đời nhau, đôi khi trầy trật khốn đốn của thân xác nặng nề khi giúp nhau quăng đi cục tội, và rồi để  nâng nhau lên trong niềm hy vọng nhẹ nhàng của siêu thoát. Và giữa những nước mắt ê chề của thất bại hay bệnh tật, lại là hình bóng của Giêsu đang mỉm cười duyên dáng trong những cố gắng nhỏ nhoi kín đáo nơi tấm lòng ai luôn sẵn lòng để Giêsu có chỗ hiện diện nơi những phận người nổi trôi. Những bài học nơi sách vở dừng lại nơi cửa của những kinh nghiệm và nhường chỗ cho những chứng nhân cụ thể của cuộc sống.  Thằng tôi càng học làm người càng thấy Thượng Đế quá quảng đại đã tặng ban cho đời quá nhiều những đại nhân cứ âm thầm khiêm tốn làm tròn bổn phận làm người trong vui tươi ngay trước mặt nó; thế mà đôi lần nó kêu ca như kẻ tiểu nhân bày mưu tính kế để giữ cho được những thắng thua của bổng lộc phàm trần. Bài học làm người quảng đại sao khó quá vậy?

Tiết xuân về làm khí trời ấm lên, ngày dài hơn và thụ tạo vươn mình sau giấc ngủ đông để khoe sức sống. Tiết xuân này đúng dịp chay tịnh của cái Đạo Tình. Tiết xuân như điểm khởi đầu mới của tuần hoàn đất trời và mùa chay tịnh nhưng cơ hội mới để thằng tôi sống niềm khát vọng mới. Tiết xuân ấm áp nhưng thằng tôi phải vội vã chạy vào nhà dưỡng lão để ôm cái xác lạnh dần của người anh em nó. Mới cười hớn hở hát mừng sinh nhật vài ba ngày trước đó, mới cho thằng tôi biết ao ước được mặc chiếc áo dòng mới cho ngày mừng lễ vàng linh mục một ngày hôm trước, mới ôm hôn trán và chúc lành cho thằng tôi vào buổi chiều cuối tuần, vậy mà trong tiết xuân này, thằng tôi dâng lễ tiễn đưa người anh của nó về với Vĩnh Cửu. Chuyến trở về này làm thằng tôi nghĩ đến những cuộc trở về cụ thể của mùa chay mà nó phải lên đường. Thằng tôi nhận thấy mình đang lang thang xa nhà như đứa con hoang đàn lang thang khắp bụi bờ lỗi tội. Hiện hữu của anh đã trở về lòng của Cha và xác anh gửi lại lòng đất mẹ. Cả hai cõi lòng đều kín ẩn và lung linh ánh sáng diệu huyền. Anh trở về tro bụi để nở nụ hoa tình chớm nở đến vĩnh cửu trong đức tin. Thằng tôi ngồi bên xác anh và xin anh cho nó gặp anh trong cõi lòng kín ẩn của nó. Nơi cõi lòng kín ẩn đó, nó xin anh đừng để nó đánh mất chính mình, nhưng trở về với Cội Nguồn như anh nhẹ nhàng phó thác nơi cuộc lữ hành này. Thằng tôi biết nó không có tiết xuân ấm áp như mọi người và nó  khóc như đứa trẻ mất món đồ chơi quý

Có những ngày thằng tôi thực sự cảm thấy cô đơn khi bóng đêm về. Trong nỗi cô đơn ấy, nó  xác tín lại những gì nó nhận ra rõ hơn bao giờ hết là không ai có thể sống dùm nó được. Đường đời ai cũng phải đi một mình chứ có riêng mình nó đâu mà nghĩ ngợi gì cho mệt xác. Thế nhưng anh Giêsu cứ lù lù hiện ra ngay trước mặt nó. Nó khóc, Giêsu cũng khóc. Nó cười, Giêsu cũng cười. Nó buồn hay vui, Giêsu cũng theo nhịp ấy mà hiện ra. Giêsu ra hiệu cho nó biết là cũng có cùng xác tín như nó trên hành trình cuộc đời đi tìm một ý nghĩa; nhưng Giêsu muốn “ở cùng” với nó. 

Nghĩ đến nát óc cũng chẳng biết khi ở cùng Giêsu thì được cái gì. Thực ra Giêsu chẳng có gì ngoài cái đề nghị “ở cùng” ấy. Kể cũng lạ, Giêsu cứ lê la theo từng phận người để xin “ở cùng.” Thằng tôi này cũng đã từng mời Giêsu vào “ở cùng” cho bớt nỗi cô đơn; nhưng khi Giêsu ở đó, mọi quyết định của nó trở nên khó khăn khôn lường. Giêsu “ở cùng” để cho thằng tôi không còn giấu được nữa những đê hèn lỗi tội. Giêsu “ở cùng” để thằng tôi bộc bạch hết mọi đảo điên thối tha của cuộc đời nó. Giêsu “ở cùng”chứ không hề sống dùm nó. Giêsu chỉ ở đó để thằng tôi nhận ra bên kia nỗi cô đơn đó là một khao khát và kiếm tìm một lối sống cao hơn nhưng gì là tình, là tiền, là quyền lực đang là là ở mặt đất. Khi khao khát và kiếm tìm như thế, thằng tôi dường như đụng chạm một Giêsu rất người, một Giêsu sống nỗi khốn nạn của kiếp người y chang như nó. Giêsu “ở cùng” để không sống dùm, nhưng trở nên bạn với thằng tôi để chấp nhận cái điên điên khùng khùng, cái mỏng manh dễ vỡ, cái thum thủm vớ vẩn trong phận đời của nó. Thằng tôi ngộ ra rằng cuộc đời là cuộc lữ hành đong đây vui buồn với tiếng khóc tiếng cười, Giêsu đến với đời để rong ruổi chơi bời như bao phận người; nhưng điều khác duy nhất là Giêsu đã chấp nhận  thằng tôi như nó là. Khi chấp nhận nó, Giêsu mang vác hết vào đời mình trong bước đi khó nhọc, trong ngã té thảm thương, và trong cái chết bầm dập để thằng tôi này nhẹ gánh bước thênh thang trong ngang dọc của cuộc đời nó.

Vui, buồn, cười, khóc cũng chỉ là những vòng xoay của mọi biến cố cuộc đời như vòng xoay của  đất trời theo chu kỳ Xuân, Hạ, Thu, Đông. Cuộc lữ hành kiếp người cứ tiếp tục theo vòng xoay đó; và điều quan trọng là sống sao để vượt lên những tầm thường của những vòng xoay. Có lẽ cái tình trong hồn từng người và trong hồn của thằng tôi là cái duyên của đời sống tâm linh, là năng lượng can đảm để có thể bước vào cái lối sống “ở cùng” của Đạo Tình. Cái lối sống “ở cùng” này làm cho cái vòng xoay luẩn quẩn của vui buồn cười khóc của ai đó trở nên con lộ tự do thênh thang. Mong thay ai đó cũng chính là thằng tôi này với khao khát và hy vọng bay cao và bay xa mãi đến tận nơi kín ẩn để học bài học “ở cùng” với Vĩnh Cửu.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nói Điều Khó Nói

Trong những giây phút cuối cùng của mùa Hè và khi vũ trụ chuyển mình sang Thu, thằng tôi dọn dẹp một chút chiếc bàn làm việc và chỉ cần năm, mười phút thì cái bàn đã đâu vào đấy. Tuy nhiên, khi dọn dẹp mùa Hè để có thể nở một nụ cười đón ngày đầu tiên của mùa Thu (21 tháng Chín) đến, thì ký ức bỗng giữ thằng tôi lại với những biến cố chẳng mấy thú vị, có thể nói là thê thảm của một mùa Hè đầy biến động lịch sử. Thằng tôi ngồi vào bàn, lướt vội hộp điện thư,  chợt nhận ra chưa bao giờ nó nhận được nhiều điện thư hỏi về cùng một vấn đề nhiều như thế. Thằng tôi cố nhớ lại cách nó trả lời cho từng điện thư, và dường như mọi điện thư trả lời đều rất ngắn gọn với lời xin lỗi, lời cám ơn và xin cầu nguyện. Thằng tôi biết rất rõ rằng lời xin lỗi, lời cám ơn và xin cầu nguyện không thể thay thế câu trả lời cho vấn đề quá nhạy cảm, quá tổn thương và quá phức tạp dọc theo dòng thời gian và độ dày lịch sử. Dù biết là không thể trả lời một cách thoả mãn và trọn vẹn cho vấn đề phức tạp này, nhưng cũng không thể không đưa ra một nhận định rõ ràng về nó, thằng tôi bỗng muốn chia sẻ suy nghĩ của nó về vấn đề này, không phải để xét đoán hay lên án ai cả, càng không phải để biện hộ, nhưng để sống, đúng hơn là tập sống tình hiệp thông trọn vẹn hơn với những người thắc mắc, những người bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, và nhất là những nạn nhân hay tội nhân của nạn Giáo Sĩ Ấu Dâm.

Để bắt đầu nói điều khó nói, thằng tôi xin phép một lần nữa để nói lời xin lỗi vì trước khi biết và học “mầu nhiệm hiệp thông” của Đức Tin Công Giáo, thằng tôi được học khi nó còn rất bé là “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.” Xin được nhân danh anh em linh mục của tôi, xin được nhân danh các giám mục của tôi, thằng tôi trong tư cách một linh mục Công Giáo xin cúi đầu xin lỗi tất cả về bất cứ lý do gì, và nhất là “sự ấu dâm của giáo sĩ” đã gây ra đau khổ cho rất nhiều người và đã làm cho các tín hữu rời xa Thượng Đế, lung lay niềm tin vào Thượng Đế và mất hy vọng vào Giáo Hội. Xin chấp nhận lời xin lỗi của thằng tôi. Với lời xin lỗi này, thằng tôi, với tất cả chân thành của nó,  muốn “bỏ cỏ với cả tàu” và đau cùng nỗi đau của bất cứ nạn nhận nào trong lãnh vực này. Nói lời xin lỗi này, thằng tôi không bao giờ nghĩ và cho phép mình đứng ngoài hàng ngũ tội nhân trong lòng Giáo hội. Thằng tôi luôn là một tội nhân mãi cần lòng thương xót và tha thứ của Thượng Đế và của anh chị em nó.

Thằng tôi muốn cám ơn tất cả những ai đã nhắc nhở nó về nạn ấu dâm này trong Giáo Hội. Lời nhắc nhở này có giá trị giáo dục, giúp thằng tôi luôn ý thức thân phận mỏng dòn của chính mình dù vững tin rằng hình ảnh thằng tôi mang trong mình khi được tạo dựng là thánh thiện. Niềm tin đã dạy thằng tôi như thế và rất nhiều khi vô tình hay cố ý, thằng tôi này quên đi sự thánh thiện ban đầu nó nhận được khi còn là bào thai trong lòng mẹ. Không chỉ có niềm tin dạy nó như thế, nhưng cả trong nền văn hóa Khổng Tử nó được học để có được mọi liên hệ nhân vị chuẩn mực trong xã hội: “nhân chi sơ tính bản thiện.” Với lời cám ơn này, thằng tôi muốn tuyên xưng lại bản chất của Giáo hội mà nó là một thành phần nhỏ nhoi: “tôi tin Giáo hội thánh thiện.”

Có đủ không khi nói lên lời xin lỗi và lời cám ơn trước những nỗi đau mà nhiều người đã và đang trải qua vì nạn giáo sĩ ấu dâm? Chắc chắn là không!

Cần hơn lời xin lỗi và lời cám ơn là một sự hiểu biết rõ rằng về sự việc. Có lẽ phải nhìn lại vấn đề một cách rõ ràng là Giáo Hội Công Giáo đang trải qua cơn bão của của nạn “giáo sĩ ấu dâm.” Trong cơn cuồng phong này, có hai ngọn gió mà sự cộng hưởng của nó làm cho thiệt hại thêm nặng nề. Thứ nhất là “giáo sĩ” – những người không những là thầy dạy về Thượng Đế/tôn giáo, nhưng họ trở thành biểu tượng của sự hy sinh, sự thánh thiện và khuôn mẫu trong lối sống cho người tín hữu. Với bản chất như thế, tội họ trở nên nặng nề hơn và họ bị lên án nặng nề hơn. Kế đến là “ấu dâm” – lạm dụng tình dục với trẻ vị thành niên. Đây là một tệ nạn làm tổn thương đến tâm lý con người ở mức độ thê thảm nhất. Vậy hiểu biết thế nào là rõ ràng.

  1. “Giáo sĩ” không phải là vấn đề của nạn ấu dâm. Đây là vấn đề của con người nói chung, vì bất cứ ai cũng có thể phạm lỗi này vì bất cứ lý do gì. Bất cứ ai, một cách công tâm, đều biết rằng nạn ấu dâm không chỉ xảy ra với giáo sĩ, nhưng với tất cả mọi ngành nghề: từ giới truyền thông giải trí đến các chính trị gia, từ giới nghệ sĩ đến các nhà giáo, từ công nhân đến bác sĩ kỹ sư, từ bần cố nông đên các phú gia giầu có, … Bất cứ ai đều có thể là đối tượng của tội phạm này.
  2. Trong bối cảnh xã hội bàn nhiều đến các khuynh hướng tính dục khác nhau, chúng ta không được phép đánh đồng ấu dâm với một khuynh hướng tính dục nào đó. Nạn ấu dâm hoàn toàn khác với khuynh hướng tính dục. Ấu dâm là xâm hại tình dục trẻ vị thành niên – người chưa trưởng thành đủ về thể lý và tâm lý. Tệ hơn nữa chính là sự cưỡng ép và bạo hành dẫn đến những chấn thương và dị tật (tinh thần, tâm lý và thể lý) trong việc phát triển thành một con người bình thường.

Lời xin lỗi và lời cám ơn liệu có biến thành liều thuốc tiên ngăn chặn con người không còn vướng vào lầm lỗi này? Chắn chắn là không!

Cần thêm vào lời xin lỗi và cám ơn những biện pháp cụ thể để điều này không tái diễn. Khó có thể nói là có một biện pháp cụ thể để lỗi lầm này biến mất hoàn toàn. Mọi cố gắng để có được một biện pháp tối ưu luôn được nghĩ đến cho dù phải dùng những cung cách “không khoan nhượng.” Để có được “thuốc đắng dã tật” những người có trách nhiệm “tìm thuốc đắng” và những người “cho liều thuốc đắng” cũng có những giới hạn của một con người. Vậy làm sao hạn chế tối đa, nếu không nói là loại bỏ lỗi lầm này ra khỏi cuộc sống của mọi người và của Giáo Hội

  1. Chọn một nền giáo dục lấy sự thật làm tiêu chuẩn và chỉ dựa trên sự thật mà thôi. Sự thật đích thực luôn luôn chỉ có một. Sự thật đích thực là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và là hình ảnh của Thiên Chúa. Khi sự thật này không được nhìn nhận, không được tôn trọng, thì lỗi lầm huỷ hoại hình ảnh này là đều dễ hiểu. Khi con người phạm tội, chính là lúc con người không còn ý thức đến sự thánh thiện nữa. Có rất nhiều cấp độ của cơn cám dỗ, nhưng mọi cám dỗ sẽ dừng lại trước sự ý thức về sự thánh thiện. Con người phạm tội vì con người không còn sống với Thiên Chúa là sự thánh thiện trọn hảo nữa. Nếu việc đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống là một sự cố tình, thì mọi sự kế tiếp sẽ theo chiều hướng đối ngược với sự thánh thiện. Đây chính là cám dỗ mà tất cả mọi người đều cần sự can đảm phi thường để chống lại, nhất là những người có chức quyền.
  2. Sự hiệp thông và lòng thương xót khác với sự đồng loã. Chắc chắn là cuộc sống không bao giờ cho chúng ta có những gì chúng ta muốn. Để dễ có những điều mà mình ao ước, sự thoả hiệp đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Phải tập sống tỉnh táo để biết rõ giới hạn của chính mình và những ranh giới không thể vượt qua. Biết những giới hạn của chính mình và chấp nhận những giới hạn đó là cách sống mà chúng ta cần tập từng ngày. Trong cách sống này, chúng ta sẽ luôn cần sự giúp đỡ của người khác và của Thượng Đế. Qua sự giúp đỡ này, sự hiệp thông trở nên lá chắn giúp từng người vuợt qua những làn tên tấn công của những cám dỗ tồi tệ. Việc ý thức về sự hiện diện của Thượng Đế giúp con người không vượt qua những ranh giới quyền lực cho phép, vì tất cả mọi người đều bình đẳng và duy chỉ Thượng Đế là vị có tiếng nói cuối cùng. Kinh nghiệm về lòng thương xót của Thượng Đế giúp từng người bước đi một cách khiêm tốn với ý thức về sự thánh thiện của Ngài.

Việc xin cầu nguyện có cần không để loại bỏ những ước muốn dục vọng, để chữa lành những vết thương, để xây dựng một cuộc sống ít bị huỷ hoại? Chắc chắn là có!

Việc cầu nguyện có vẻ như mơ hồ với nhiều người vì nó vô hình lắm, nó riêng tư lắm, nó khó lý giải lắm. Nhưng cũng chính vì vô hình, riêng tư và khó lý giải đó khi đủ độ chín mùi, nó trở thành những “kết nối tâm linh” và làm cho con người có được những cái “ngộ” trong cuộc sống trước những mầu nhiệm của riêng mình.

  1. Niềm tin vào Thượng Đế luôn là một ngọn nến nhỏ nhoi cần được bảo vệ trước những sóng gió của cuộc đời. Nó chỉ đủ sáng để soi đường cho một bước chân đặt xuống trong vững chãi của một hành trình rất dài. Dù nhỏ nhoi như thế, nhưng từng người rất cần niềm tin để bước  đi một cách vững vàng không vấp té, vì hành trình của một đời người chính là những từng bước chân nhỏ nhoi ấy kết lại.
  2. Trên hành trình cuộc đời ấy, những bảng chỉ đường và những điểm dừng chân là cần thiết nhưng không phải là đích đến. Hành trình của từng người có những bảng chỉ đường khác nhau và có những điểm dừng chân khác nhau; nhưng tất cả đều có cùng một đích đến là Thượng Đế. Hãy tin vào Thượng Đế chứ đừng tin vào người nào cả. Trên hành trình đó, người khác có thể là bảng chỉ đường, có thể là điểm dừng chân, và có thể là người đồng hành. Kinh nghiệm của lịch sử để lại cho chúng ta là tất cả những ai dừng lại ở những điểm trên, họ dễ dàng thất vọng với những sóng gió của thời cuộc. Hãy tiếp tục tin vào Thượng Đế là đích đến của hành trình cuộc sống để hành trình được tiếp tục, cho dù có những khoảng khắc thật dài không thấy bảng chỉ đường, không có một điểm dừng chân, và đôi khi chỉ một mình vì người đồng hành đã rẽ lối.
  3. Hãy cầu nguyện để cương quyết hơn với tội lỗi và hiền dịu hơn với tội nhân. Cầu nguyện để có được cặp mắt của Thượng Đế để nhìn, có được đôi tai của Thượng Đế để nghe, có được đôi tay của Thượng Đế để hành động, có được con tim của Thương Đế để sống và có được suy nghĩ của Thượng Đế để phán đoán. Điều này không thực sự dễ dàng. Có lẽ đây là cách duy nhất làm cách mạng trong Giáo Hội. Lịch sử của Giáo Hội đã chứng minh điều này là chính trong những lúc Giáo Hội bị khủng hoảng đến tột cùng, người thay đổi khuôn mặt Giáo Hội và làm cho nó nên mới chính là những người sống gần Thượng Đế, sống như Thượng Đế. Bất cứ ai, dù có chức vụ hay không chức vụ, dù định cư ở thành thị hay nông thôn, dù học thức hay không, dù nữ hay nam, dù già hay trẻ, tất cả…đúng vậy, tất cả đều có thể trở thành nhà cải tổ giáo hội bằng chính cuộc sống thánh thiện của mình. Thật khó để trở nên thánh thiện khi cắt đứt với nguồn cội thánh thiện là Thượng Đế. Bởi vì ai ai cũng biết một cách rõ ràng là lời cầu nguyện chính là cách tiến gần đến Thượng Đế.

Với những suy nghĩ cỏn con như thế, thằng tôi này mong lời xin lỗi và lời cám ơn của nó đượm lời cầu nguyện. Nếu ai đó rủa vả vì nó vì nó khoác lên mình bộ tu phục linh mục, nó xin đón nhận để tập sống tình hiệp thông sâu xa với Giáo Hội của nó. Nếu ai đó xua đuổi nó vì nó là một giáo sĩ, nó xin đón nhận sự xua đuổi đó chứ không từ bỏ niềm tin của nó. Nếu ai đó cho nó cơ hội để làm bảng chỉ đường, để làm điểm dừng chân, nó xin đón nhận để có cơ hội nói lên lời xin lỗi, lời cám ơn, và nhất là xin được cầu nguyện cùng với ai đó đã cho nó cơ hội quý giá được biết họ. Tất cả mọi người không trừ một ai đều có thể phạm tội. Nên bất cứ ai phạm tội, ta cần có thái độ nghiêm khắc với tội, nhưng luôn cần có một thái độ đối xử đúng với tất cả mọi người trong nhân phẩm mà họ được sinh ra. Đã có những cơ quan có thẩm quyền với những trách nhiệm được giao để thi hành những biện pháp nhằm hạn chế bớt lỗi tội và để cho sự công bằng được thực thi; và từng người chúng ta được mời gọi đóng góp vào công việc này dựa trên sự thật của từng trường hợp. Song song với điều đó, việc tìm hiểu để có thêm kiến thức về vấn đề này, về Giáo hội sẽ làm cho phán đoán của từng người chúng ta công bằng và chính xác hơn.

Một mùa Hè trôi qua với những cơn bão hoành hành và ký ức mang thằng tôi đến những nơi bị cơn bão biến thành đống hoang tàn. Là một phần của lịch sử đau thương này, thằng tôi ngẫm nghĩ nhiều lắm về chính bản thân của nó với nhiều lỗi tội trong cuộc sống. Sự ý thức về thân phận tội lỗi của nó thật rõ ràng; nhưng sự nặng nề của lỗi tội không dập tắt được trong nó một ước muốn vươn lên và trở nên thánh thiện hơn. Lịch sử của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo nói riêng và của xã hội nói chung đã bao lần chứng kiến những hoang tàn như thế. Nhưng cũng từ trong những hoang tàn ấy, những ao ước trở nên tốt hơn mỗi ngày sẽ vươn lên như những con chim ưng vút lên trời cao. Trước những hoang tàn ấy, đã có những bài học được nhận ra, đã có những giải pháp được đề nghị, đã có những áp dụng được thực thi. Trong những cố gắng hết sức để lịch sử không lập lại, dù chưa hoàn hảo hay chưa thoả mãn ai đó về vấn nạn này, vẫn phải công nhận là có một sự chuyển biến tích cực thực sự. Lịch sử sẽ đưa ra những phán đoán công-tội cho từng hành trình, từng con người, từng tổ chức, nhưng Thượng Đế, Đấng vượt lên trên hết tất cả những điều ấy sẽ có tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói ấy đã cất lên lúc rõ lúc mờ. Có người nghe được và người không nghe được. Có người ao ước nghe và cũng có người cố tình không nghe. Dù ở mức độ nào và thuộc nhóm nào, từng người sẽ phải đối diện với Thượng Đế để kể với Ngài hành trình họ đã đi qua. Thằng tôi cầu nguyện và hy vọng để nó luôn tập nghe tiếng nói đó từng ngày trong hành trình, để khi gần đến đích, Thượng Đế nhận ra nó và tiếng nói của Ngài không xa lạ như lúc nó đang rong ruổi trên đường đời. Trong thời gian cho đến ngày nó gặp Thượng Đế diện đối diện, thằng tôi sẵn lòng chia sẻ thêm để học hỏi thêm, lắng nghe thêm để gánh bớt nỗi đau, và cầu nguyện để sống tốt hơn từng ngày dù hay thất bại.

(Ngày cuối Hè 2018)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?